Nghiên cứu : MỘT LÁ SỐ THEO PHƯƠNG PHÁP NGŨ LINH ĐỜI NGƯỜI ( PHẦN 1 )

  NAM

  Năm1945               Tháng 8              Ngày 14               Giờ  

     Ất Dậu                  Ất Dậu              Tân Mão            Đinh Dậu

                                                             (sinh)                   ( hư )

1.Quẻ  chủ  Mệnh :

Sao Thiên Không cư Mùi

Quẻ Thuần Đoài (N.6 – Đ.3)

Thai cung: TTị (sao Quỷ)(sao Liễu cư Tý)

NTinh:1(khảm)

Du niên Mệnh cung (Nthìn)

Chủ khí: Hỏa

    * Hào phụ mẫu thổ ra NĐ lại trì thế là (Mệnh thân đồng cung)  ra Thất xích tử khí (vất vả từ nhỏ lại phải sớm xa cách gia đình nếu không  ắt cha mẹ khó thể song toàn). Hào P.sửu . ứng, động ra Tứ lục là sinh khí nên ứng văn thư ấn tín.(ắt là người được đào tạo học hành cơ bản, có sức bật. Vì thai tinh ra sao Qủy nên còn là người khéo léo tay chân, lai vừa thích văn học nghệ thuật và có óc sáng tạo). Mặt khác hào phụ mẫu cũng còn chỉ về đất cát điền địa, lại là hào mộ thổ nên ắt hẳn  phải có 2,3 miếng đất ( nhà cửa) đồng thời cũng phải đổi nhà( nơi ở) vài lần (vì hào phụ mẫu Sửu động, động là có biến, có sự thay đổi di dời)

     * Hào Quan quỷ Ti hỏa ra Bạch hổ lại có Qúy Nhân cùng sao giốc, lại là vượng khí nên con đường quan trường  rất khá. Sao giốc mộc giao, hành mộc là sao  đầu tiên của vòng nhị thập bát tú, luôn chỉ sự đứng đầu vậy ắt hẳn phải là con trưởng ( nếu không thì cũng là thứ đoạt trưởng) lại luôn luôn thể hiện vai trò hàng đầu ( thời học sinh đi học thì chuyên làm lớp trưởng, ra công tác thì làm đôi trưởng, toán trưởng, kinh doanh thì sẽ là giám đốc, hoặc trưởng phòng). Sao Giốc là đầu nếu ngộ hình hại thì ắt là đầu bị tổn thương nhưng vì ngộ Qúy nhân  nên có Qúy nhân phù trợ  mà thành ra đầu không bị thương, ngược lại trong người tay chân lại bị thương (hay tỳ vết) là vì có hào huynh đệ Dậu ngồi thái tuế ra sao Tâm, hào huynh đệ chỉ Chân tay, sao Tâm rơi vào cung “Đao châm” ắt phải bị tổn thương vậy.

      *Xét cung Thê: Có hào tài Mão mộc bị tuế phá lại thoái khí nên cuộc sống gia đình không được thuận lắm vợ chồng xung khắc, chỉ sau khi lập gia đình 1 thời gian ngắn đã phải chia xa. Nếu không vì cung tài Mão ra Qúy nhân thì ắt phải ly hôn, tái giá, nhưng vì ngộ Qúy nhân mà khiến cho  muốn xa cũng khó, gần lại chẳng êm, thật là con người ta sống ở đời cũng Trăm người Trăm hoàn cảnh, chẳng ai giống ai. Cũng khó mà nói ai khổ, ai sướng hơn ai là vậy! Tuy nhiên cung tài lại có Qúy nhân ngộ lộc  nên cung Tài lộc cũng khá( đại vận 3 quẻ Tiểu súc là có sự tích trữ nhỏ, đại vận 4 quẻ độn có hào Tài Dần mộc ra Sinh khí nên 2 đại vận này kinh tế khá, nhất là đại vận 4. Sang đại vận 5 kém hơn)

Đó là xét lược giản về quẻ chủ Mệnh

 2.quẻ đại vận:

Cung KN: Ly,      Cung LQ: Ất hợi (mã )

    1               2                3                   4                   5                 6               7

 ất hợi    Mậu Ngọ    Qúy Dậu      BínhThìn      Tân Mùi    Giap Dần    Kỷ Tị

   10t           20t             30t                 40t                50t             60t          70t

   Cơ          Mão             Nữ                Thất            Thất            Đẩu          Lâu

 Đại Vận 1: Ất hợi ( 10t – 19t)

Sao Thiên cầm cư Ngọ ( sinh )

Quẻ: Gia nhân thành quẻ Tiệm (N.2- Đ.1)

 Đại vận 2: Mậu Ngọ (20t – 30 t)

Sao Thiên cầm cư Tý ( Sống dê)

Quẻ : Hoán thành quẻ Mông ( N.5 – Đ.5)

( Đại vận này từ năm 1964 đến năm 1973 . Qúy sửu)

Theo chu dịch:  Tượng của quẻ Hoán là  sự lìa tan

Lời tượng : “Người ta lìa tan bởi  ở bên trong”  Lòng người lìa thì tan, chữa sự lìa tan cũng gốc ở bên trong thu thập lòng người thì tan có thể hợp, cho nên nghĩa quẻ đều chủ về bên trong. Lợi trinh nghĩa là cái đạo hợp sự lìa tan, cốt ở chính bền”

Vì vậy đại vận này có sự hoán đổi lớn của cuộc đời có tượng của sự đi xa, lại cũng có tượng của sự hôn nhân sinh sản. Qủe hoán có hào tài Dậu  Phục tại Tị là phục tại cung Mệnh , Thân, lại động nên nói rằng có tượng của sự hôn nhân, gia đình

 Đại vận 3: Qúy Dậu ( 30t – 39 t)

Sao Thiên cầm cư Dậu( Hư )

Qủe: Tiểu Súc thành quẻ Trung phù ( N.6- Đ.3)

( Đại vận này từ năm 74 giáp dần đến năm 83 Qúy Hợi ). Qủe tiểu súc là tích trữ nhỏ, nghĩa là trong thời gian này là thời gian của sự tích lũy của sự xây dựng, cũng là tượng của sự di rời chỗ ở. Lại có hào chủ mệnh P.Tý hình hào thân( NĐ- H. mão) lại ra cô hư nên đây cũng là năm có nhiều sự đấu tranh trong cuộc sống trong tư tưởng và cả trong quan hệ gia đình.

 Đại vận 4: Bính thìn(40t – 49 t)

Sao Thiên anh cư Sửu ( vượng) (  s dê )

Quẻ Độn  thành quẻ Cấu (N.4 – Đ.2)

(Đại vận này từ năm 84 Giáp dần đến năm 93 Qúy Dậu)

Lời tượng của quẻ Độn viết: “Độn Hanh tiểu lợi trinh”

Khổng tử nói rằng:  quẻ Độn hanh thông là lánh đi mà được hanh thông ( rút khỏi chỗ cũ, chuyển sang chỗ mới) cương được ngôi mà ứng là cùng thời đi vậy. Lợi nhỏ nhưng trong sáng, dần dần mà tiến ( mà lớn). Nghĩa của thời Độn là như vậy.

 Lời từ hào 4. Hào nguyên đường viết: “Hiếu độn, quân tử cát, tiểu nhân bĩ” Nghĩa là vào đại vận này phải có sự hiếu độn, sự thoái ẩn, sự về hưu, sự chuyển đổi, có nghĩa là sự thua, lùi, ẩn. Nhưng sự thoái lui đấy mà lại không phải là thoái lui mà lại còn là tốt đẹp, sự thoái lui ấy để mà lai hanh thông để lớn dần. Nhưng chu hy nói rằng “Đấng quân tử mới làm được vậy, còn bọn tiểu nhân (Mệnh kém) thì không làm được nên mới nói quân tử cát, tiểu nhân bĩ”. Cái độn mà hữu cát nói ở đây ắt phải xảy ra vào năm Ngọ Vì năm này quẻ Độn ra hào quan quỷ Ngọ trì thế mà lại động. Nguyên đường cũng ngồi hào quan quỷ Ngọ nên đoán là năm Ngọ ắt có biến động vậy.

Đai vận này còn có Sao Thiên anh ra Bính là sống dê. Mệnh có Cô hư, đại vận lại ra sống dê là tượng vợ chồng xung khắc, bất hòa. Trong đại vận này vợ có hạn xấu(tai họa, ốm đau).

 Đại vận 5: Tân mùi ( 50t – 59t)

Sao Thiên anh cư Thân ( suy )

Quẻ Lý thành quẻ Khuê ( N.4 – Đ.5 )

(Đại vận này từ năm 1994 Giáp tuất đến năm 2003 Quý mùi) quẻ Lý là tượng của sự ra đi ( Lý là đi) Lý cũng là pháp độ, là lễ, là trật tự.

 Dịch nói: Lý là kính thân đối với trên, mềm dẻo thu phục được kẻ bạo cường, người Kim, lòng hoài cổ, đổi khó thành dễ, hóa xấu thành tốt. Đại vận này ra Lý biến thành Khuê, Khuê là hãm trở nhỏ.

Trình di nói: “quẻ  khuê trên Ly dưới Đoài, lửa bốc lên, trầm Đoài thấm xuống, là nghĩa hai thể lìa nhau vậy.

 Lời hào 4 viết: “ Khuê cô ngộ nguyên phu, giao phu, lệ vô cữu” ( cô đơn ở thời khuê, nguy, gặp bạn cũ tâm đắc, không lỗi). Vì vậy trong đại vận này ắt có sự thay đổi, thoái miễn chức vị, trở về với công việc nhàn nhã hơn mà có dịp gặp lại bạn cũ, cuộc sống có bước lùi mà không lỗi, không xấu vậy.Sự thay đổi, chuyển công việc này rơi vào năm Tý vì năm Tý thì hào NĐ Ngọ ( cung thân )  ra tuế phá, lại hình hào quan quỷ Mão ( ứng ) ( Tý mão tương hình )mặt khác đại vận này còn có hào tử tôn trì thế lại động, sao Thiên anh chủ tinh suy nhược nên khó mà làm quan.

 Đai vận 6: Giáp Dần ( 60t – 69t )

Sao Thiên cầm cư Tuất ( Cô )

Quẻ Thuần tốn thành quẻ Tỉnh ( N.4 – Đ.6 )

Lời tượng : “tốn tiểu hanh, lợi hữu du vãng, lợi kiến đại nhân” ( Tốn tiểu hanh. Hanh thông nhỏ, lợi du vãng – đi lại, lợi gặp người trên ). Quẻ Tốn và  Đoài, cả 2 đều là quẻ thuần, lục xung. Điều chỉ kẻ cương được chỗ trung chính, nhún và đẹp lòng, nghĩa cũng giống nhau, nhưng quẻ Đoài thì hanh thông  quẻ Tốn thì nhỏ hanh. Quẻ đoài  hào âm nhu ở ngoài tức là cách dùng nhu ( người tính cách cương cường nhưng lại biểu hiện nhu thuận – nên hanh thông ). Còn quẻ Tốn âm làm việc, hào âm nhu ở trong, tức là tính nó mềm vì vậy sự hanh thông của quẻ Tốn mới nhỏ.

Đại vận này là đại vận  về già, vui với điền gia,  sung túc, an vui tự tại, nhưng vì chủ tinh ra cô nên có thể phải sống đơn lẻ vậy.

( Còn Nữa )

Đăng ngày 12/12/2017