Nghiên cứu LÁ SỐ CỦA MỘT PHỤ NỮ SÁT ĐẾN 4 ĐỜI CHỒNG

                                                                 

Bà : Lưu Thị Quỳnh Ngày sinh : 23/9/1923 lúc 13h đến 15h (dương lich )

Tức :13/8/1923   giờ mùi (âm lịch ) 


LUẬN GIẢI :

*Về Âm Dương : Âm nữ mà Mệnh lập ở cung Dần là cung Dương, thế là “Âm Dương nghịch lý” : không tốt. Do đó cuộc đời gặp nhiều nghịch cảnh.  

*Về Ngũ Hành: Thủy Mệnh mà Thủy cục là “ Mệnh cục ngũ hành tương đồng” không sinh nhau cũng chẳng khắc nhau, thì cũng tương đối tốt.  

*Về cung Mệnh :  Có cách “ Cơ Nguyệt Đồng Lương”  mà cả 4 sao Thiên Cơ. Thái âm, Thiên đồng, Thiên lương đều đắc địa trở nên cả. Cách này rất hợp với nữ số. Sách có câu : “ Đồng Lương tối hỷ Dần Thân miếu”  người này có Đồng + Lương  đồng cung  ở Dần là số giàu sang, là người rất thông minh, trung hậu. Có Thái âm miếu địa ở cung Tài chiếu Mệnh, có Hóa Khoa nhị hợp chiếu với Mệnh, cung Quan có Thiên Cơ đắc địa đồng cung với Thiên Quan Qúi Nhân, lại thêm một loạt phúc tinh chiếu Mệnh là Thiên đức+ Long đức + Phúc đức, Thiên quan quí nhân, Thiếu âm, Ân quang, Thanh long , Thiên hỷ, Địa giải, nên người này tính tình phúc hậu, và cũng là những sao tốt đẹp ở Mệnh, nói lên số một phụ nữ “ Mệnh phụ phu nhân”  

*Về cung Thân: Thân cư Phúc đức, có Thái dương vượng địa cư Phúc, có Tướng Quân+ Quốc ấn+ Đào hoa + Hồng loan, có Lộc tồn+ Hóa quyền, lại giáp Thiên khôi giáp Thiên việt. Lại thêm Tràng sinh+ Đế vượng  là 2 sao hệ số nhân cái tốt đẹp của cung này lên nữa Thân tốt hơn Mệnh nên càng về hậu vận số càng giàu sang thêm.  

*Về cung Phu:   Có Cự Môn vượng địa ở Tý là cách “Thạch trung ẩn ngọc” Cách này lại có cả Tuần+ Triệt án ngữ ở cung Phu làm cho hòn đá bị phá ra để cho viên ngọc sáng rực lên, thêm Thiên không lại làm quang âm khí cho sáng lên nữa, lại có Lộc tồn ở ngay đó làm cho viên ngọc có giá, chỉ thiếu Đại Tiểu hao có tác dụng thêm làm tan âm khí cho viên ngọc sáng chói lên mà thôi, nhưng cung này còn có Đào hoa +Hồng loan + Tướng quân, Tứ đức  là Long đức + Nguyệt đức+ Thiên đức + Phúc đức, và cũng có Tràng sinh + Đế vượng là 2 sao hệ số nhân cái tốt đẹp của các sao trên lên, do đó mà 4 đời chồng của bà này đều làm quan to cả. Đó là mặt tốt đẹp .

Còn mặt xấu, nói lên cách sát chồng là : Cự Môn chỉ tốt cho Mệnh, Thân, còn ở các cung khác thì không tốt đẹp, nhất là ở cung Phu, mà lại gặp Tuần + Triệt thì rất nguy hại. Người có cung Phu Thê bị Tuần Triệt án ngữ, chỉ 1 sao thôi cũng khổ rồi, ở đây lại cả 2 sao đồng cung, nhất là lại có sao chính tinh sáng sủa( đắc địa trở nên)thì càng nguy, quan hệ vợ chồng hình khắc nhau, chia ly, tử biệt, phải nhiều độ buồn thương , ngay nam giới có số như vậy cũng 2,3 độ buồn thương . sách nói là “ Tam độ tác Tân lang” . Đó là chưa kể đến Sát tinh ( sao gieo tai họa ) Cung Phu của bà này bị tới 5 Sát tinh thủ và chiếu và 2 Sát tinh giáp nữa là 7Sát tinh. Khoa Tử Vi cả thảy có 8 Sát tinh mà cung này bị tới 7 Sát tinh, thì sự gieo tai họa, sự sát phạt tất nhiên phải rất nặng nề đến mức tối đa rồi (Thiên không+ Kiếp sát+ Đia kiếp+ Đia không + Hỏa tinh + Kình dương + Đà la giáp cung Phu).Cung Phu có sao Hóa quyền là chồng là người có quyền, nhưng mặt khác sao này đi với các sao xấu và 7 Sát tinh thì nó lại giúp cho tai họa mạnh lên, nguy hiểm hơn lên.

Mặt khác cung Mệnh của đương số lại giáp Vũ khúc, giáp Thiên tướng  là cách của người phụ nữ cao số, dễ hình khắc chồng.Còn cung Thân cư Phúc đức có cách “Hình, Diêu” Sách có câu “ Hình Diêu số gái long đong” Mệnh có Cô thần+ Qủa Tú,  Thân có Hình + Diêu  nên bà này khắc nhiều chồng  là rất đúng , nhất là sát chồng rõ nhất ở cung Phu.  

*Về cung Tử Tức: Tham lang+ Liêm trinh  hãm địa, may có Hóa kỵ nên Tham, Liêm giảm bớt được nhiều tai họa Cung này có Hóa lộc chiếu, lại giáp Hóa khoa gặp Hóa quyền, có Tả phù+ Hữu bật, Văn xương+ Văn khúc, Thiên khôi, Long trì+ Phượng các + Bạch hổ+ Hoa cái ( tứ linh ) Tam thai+ Bát tọa, Quan phù+ Thái tuế, nên con cái đều có học, có tài, làm nên dạnh vọng cả. Cung này còn có Thiên đồng+ Thiên lương nhị hợp nên nhiều con di bào. Càng nói rõ thêm số nhiều chồng.

TÓM LẠI : Đây là số một phụ nữ khá giàu sang, một mệnh phụ phu nhân, nhưng long đong vất vả. Tuy chồng đều là người có học, làm nên danh vọng, nhưng cung Phu như trên đã phân tích, làm cho người này sát đến 4 đời chồng. Dưới Đây Chúng Ta Nghiên Cứu Về Vận Hạn , để thấy rõ cuộc đời người này :

1.Hạn lấy chồng lần thứ nhất: Năm Giáp Thân (1944) 22 tuổi. Năm này là năm Đại Tiểu hạn trùng phùng , hạn đến cung phúc đức ( 22tuổi đến 31 tuổi). Cung Phu cũng hội chiếu vào cung này, nên là hạn có khả năng lấy chồng. Thái dương  nhập hạn, vượng địa, gặp Thái âm miếu địa, 2 sao này là 2sao thay đổi về cuộc đời, lại có Hồng loan+ Đào hoa+ Thiên hỷ( Tam minh ) Thiên diêu, sao Mộ lại thêm Tràng sinh+ Đế vượng  là 2 sao hệ số nhân những sao tình duyên, cưới hỏi trên đây lên, nên duyên đến hạn này là đúng. Nhất là đại tiểu hạn trùng phùng

2.Hạn chết chồng lần thứ nhất: Năm Mậu Tý ( 1948 ) 26 tuổi.

Đại Hạn:  Vẫn ở cung Phúc : Có Nhật Nguyệt là 2 sao thay đổi, nhưng đi đôi với Hình+ Diêu, Hồng+ Đào+ 4 sát tinh ( Đia không+ Hỏa tinh+ Thiên không + Kiếp sát ) Qủa tú, Phá toái+ Đại hao nhị hợp nữa.

Tiểu hạn : Đến cung Phu ( năm Mậu Tý ) có Cự Môn + Tuần + Triệt, Đào+ Hồng+ 7 sát tinh (Thiên không + Kiếp sát + Địa kiếp+ Địa không + Hỏa tinh  và giáp Kình dương + Đà la) có Tang môn nhị hợp nữa, nên đúng là hạn chồng thứ nhất chết là một Vụ trưởng.

3. Hạn Chết chồng lần thứ 2: Sau đó nàng lại lấy được một người chồng là Vụ phó. Nhưng người chồng thứ 2 này lại ốm chết năm nàng 30 tuổi, năm Nhâm thìn( 1952 )

Đại hạn : Vẫn ở cung Phúc, như trên đã trình giải, là cái hạn chết chồng.

Tiểu hạn : Năm Nhâm Thìn đến cung Thiên di cung này Vô chính diệu đăc tứ không ( Tuần+ Triệt + Thiên không + Địa không ) nhưng lại không có sao không nào ở cung nhập hạn, đó là một điềm bất lợi, chính chiếu có sao Thiên đồng+ Thiên lương miếu địa, nhưng là sao thay đổi, lại là sao văn, nên không đich nổi 4 sát tinh hạng nặng: Thiên không + Kiếp sát + Đia không+ Hỏa tinh, có Hình + Diêu+ Thiên y + Bệnh phùBệnh, nên người chồng này ốm chết. Cung này còn Cô thần chính chiếu và giáp Thiên khốc( người khóc) giáp Điếu khách ( người đến điếu tang ).

4. Hạn chết chồng lần thứ 3: Năm 37 tuổi  là năm Kỷ Hợi ( 1959 )

Đại hạn : Đến cung Điền ( 32 tuổi  đến 41 tuổi ) Cung này cũng vô chính diệu đắc nhị không (Tuần+ Triệt ) mà cũng không có  “ sao không”  nào án ngữ ở cung nhập hạn, nên là một hạn yếu. Chính chiếu cung đại hạn này là Tham lang+ Liêm trinh  hãm địa,  nên càng thêm xấu. Thêm 6 sát tinh là Kình dương + Đà la + Kiếp sát ( nhị hợp )  và giáp Địa không + Hỏa linh giáp Địa kiếpHóa kỵ với một loạt sao chia ly nữa là Thiên hư, Tuế phá, Phá toái, Tang môn, Điếu khách . Hợp chiếu cung Đại hạn còn có Thiên tướng ngộ cả TuầnTriệt + Suy Tuyệt.

Tiểu hạn:  Năm Kỷ Hợi 37 tuổi ( 1959) Tiểu hạn Đến cung Bào, có Thiên tướng ngộ cả Tuần + Triệt là hạn rất độc, Tướng  lại gặp Kình dương là ông Tướng bị đâm, có Tang môn + Bạch hổ+ Thiên hư+ Thiên khốc, Tuế phá, Phá tóai, Thiên thương+ Thiên sứ , suy +Tuyệt . đúng là hạn có tang chồng , Vì cung này còn nhị hợp với cung Phu nữa.

5. Hạn chết chồng lần thứ tư: Năm Đinh Tị ( 1977) năm bà này 55 tuổi

Đại hạn đến cung Nô ( 52 tuổi đến 61tuổi ) Sao nhập hạn là Tử vi+ Phá Quân  đều đắc địa, nhưng 2 sao này là 2sao không lợi cho quan hệ vợ chồng ( là cách “ đế ngộ hung đồ )

Tiểu han:  Cũng đến cung này, nên đây là cung Đại Tiểu hạn trùng phùng. Trong hạn này chính chiếu có Thiên tướng ngộ Cả Tuần + Triệt  và Kình duơng là ông tuớng bị sát hại. Sát tinh nhập hạn có Kình dương + Đà la + Linh tinh  và giáp Kiếp sát giáp Đia Không cộng là 5 sát tinh. Các sao tử biệt sinh ly  là Tang môn+ Bạch hổ, Thiên khốc, Thiên thương, “ văn xương + văn khúc+ hóa kỵ”  có Thiên giải + Giải thần  trong hạn quá xấu này, 2 sao giải này sẽ biến thành tử thần . Mà hạn này là Đại tiểu hạn Trùng phùng, nên 1 Tang môn thành 2 Tang môn,  1 Thiên khốc thành 2 Thiên khốc . v.v.v.v.. Nên sau cái chết  của người chồng này bà này không lấy chồng nữa. Cuộc đời giàu sang của bà thấm đầy nước mắt . /.

 

Trên là phần luận giải lá số Tử Vi của:    Cụ  Phạm Khắc Niệm

( Đăng ngày : 21.12.2012 )