Con mắt thứ ba - TỔNG KẾT

NGOÀI KHOA HỌC TÂM LÝ CÒN CÓ THỂ CÓ NHIỀU GIẢ THUYẾT ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG ĐỊNH TÂM.

 

Người thực hành thiền định ít nhiều chuyên nghiệp, có lẽ đều mong muốn tìm hiểu tài liệu nào đó, có mức độ tin cậy tương đối, để hiểu được hiện tượng nhập định. Đây là một nhu cầu cần thiết, vì hiểu được cấu tạo và vận hành, thì việc thực hành và sữa chữa không còn lệ thuộc vào yếu tố may rủi đầy phiêu lưu, thực sự thiếu tính chất chuyên nghiệp.

Ở khung tham khảo của cuộc sống đời thường, chúng ta thử xét một số trường hợp nêu sau, mà có thể ai cũng đã gặp những trường hợp tương tự, có khi chính mình là chứng nhân.

- Một người phụ nữ nuôi người chồng bị ung thư nhiều năm, trong thời gian này, ngoại hình của cô rất kém. Thế rồi khi người chồng mất đi, cô này trông trẻ đẹp hẳn ra.

- Có một cô gái dưới 20 tuổi từ quê ra thành phố làm nghề giúp việc nhà. Vì cuộc sống cô phải cố gắng nhưng cô không thích công việc này, nên trông cô luôn buồn rầu, ủ rũ…. Khi  có người giới thiệu đi làm ở một tiệm karaoke, thì cô nhận công việc này ngay, vì cô thích công việc này nên trông cô tươi tắn, đẹp ra rõ ràng. Sau một thời gian ngắn thì cô bị nghỉ việc, ngoại hình lúc đó có lẽ kém hơn cả lúc làm giúp việc.

- Trường hợp thứ ba, một anh ở Việt Nam, khi biết mình được đi Mỹ theo diện HO với toàn thể gia đình. Anh vui mừng khi nghĩ đến tương lai hứa hẹn nên ngoại hình của anh thay đổi hẳn, thành một con người khác, quá khác rất đáng kinh ngạc.

NĂNG LƯỢNG TÂM LÝ

Những hiện tượng tâm sinh lý nói trên, làm cho người ta có thể liên tưởng đến khái niệm năng lượng rất phổ biến, kể cả trong cuộc sống đời thường. Xin phép tóm lược thông tin phổ thông từ WIKIPEDIA. Năng lượng có 3 vấn đề về vật lý đáng quan tâm:

  1. Năng lượng mang tính chất lượng (quantitative property)
  2. Được truyền cho một vật bất kỳ để thực hành công (work)
  3. Năng lượng bảo toàn số lượng (conserved quanlity). Điều này được mô tả bởi định luật bảo toàn năng lượng ( the law of conservation of energy)

Sự thật ai cũng biết năng lượng rất khó định nghĩa, mặc dù nó là khái niệm trung tâm (central concept) của hầu hết các ngành khoa học. Chúng ta chỉ có thể quan sát được hệ quả của năng lượng, khi có cái gì đó xảy ra. Khi nó dẫn truyền từ nơi này qua nơi khác hoặc biến đổi từ dạng này qua dạng khác.

Căn cứ vào những tính chất mà vật lý mô tả, người ta có thể quan sát thấy, các nguyên tử tâm lý cũng có tính chất năng lượng khá rõ ràng.

Người ta biết đến nhiều loại năng lượng đã được kể ra. Tuy nhiên, không thấy năng lượng tâm lý – tâm năng – được đề cập đến. Bất kể là ai, bất kể nghề nghiệp nào, năng lượng tâm lý liên tục chi phối chúng ta lúc thức cũng như lúc ngủ. Khi quí đọc giả đang đọc tài liệu này, điện não đồ nếu được sử dụng, sẽ cho thấy một loại sóng khác với lúc không đọc. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của vật lý, cụ thể là chúng ta có thể quan sát được năng lượng tâm lý khi nó dẫn truyền từ nơi này qua nơi khác, biến đổi từ dạng này qua dạng khác. Nói tóm lại, nó đáp ứng định luật bảo toàn năng lượng.

Tài liệu cổ, cũng như tâm lý học đều cho là, chủ thể tâm lý có rất nhiều yếu tố tâm lý. Chỉ riêng hiện tượng rất phổ thông như MASOCHISME có một bảng rất dài các đơn vị tâm lý riêng lẻ, quí đọc giả có thể truy cập trên trang web phổ thông. Thực tế, chưa thấy ai, có thống kê nào cho biết có bao nhiêu nguyên tố tâm lý. Tài liệu phổ thông Vi Diệu Pháp là một mê thất về các yếu tố tâm, với quá nhiều ẩn số, có lẽ không bao giờ - dù những máy tính mạnh nhất – có thể tìm được đáp số. Chúng ta tự hỏi, chính mình còn chẳng hiểu nổi mình, dân gian thường bảo “ Ở sao cho vừa lòng người …” Tệ hại hơn nữa như “Giấc nam kha khéo bất bình…” giấc mơ nổi tiếng lịch sử, mơ mình là bướm, phân vân không biết mình là bướm hay bướm là mình! Có lẽ số lượng đơn vị tâm lý, mãi mãi là một ẩn số.

Ngày hôm nay, nhờ phương tiện truyền thông phổ biến, rất nhiều hiện tượng chủ thể tâm lý tồn tại riêng biệt với cơ thể vật lý.

Một cái tên gọi là “Đa nhân cách” cho có vẻ khoa học, có lẽ là khoa học giả hiệu. Sự thật là ma, linh hồn người chết rồi… mượn một cơ thể vật lý của ai đó, để nói lên sự có mặt của mình vì lý do nào đó, có thống kê cho là 3% đến 5% nhân loại là đa nhân cách. Quí đọc giả có thể tự quan sát xung quanh mình hiện tượng này không phải là hiếm. Tái sinh hay cận tử thì hiếm gặp, chứ không phải là không có. Một thử nghiệm đơn giản, hầu như ai cũng có thể làm được. Quí đọc giả tạm ngưng đọc tài liệu này, cố nhớ lại lúc mình còn nhỏ, nhỏ lắm… từ từ hết sức cố nhớ lại… lúc đó mình cảm thấy thờ ơ, xa lạ với cả cha mẹ mình, gia đình, anh em… mình thấy sợ hãi, lạc lõng… Đến khi chúng ta 5, 8 tuổi, quen dần với cuộc sống mới, gia đình thân thuộc mới và quên hoàn toàn kiếp trước của mình. Với thiền định hay thôi miên người ta nhớ ra kiếp sống trước là một việc khá phổ thông.

Nếu người ta giả thuyết các nguyên tố tâm lý mang tính chất lượng tử, thì hiện tượng nhập định có thể giải thích như thế nào?, tại sao nhập định lại khó? (lượng tử được hiểu là năng lượng đứt đoạn, mang tính sóng hạt)

Thí dụ chúng ta muốn chết, muốn ngủ, muốn nằm mơ… đều không thể chủ động làm được, có lẽ nhập định cũng vậy. Dường như có một bức tường vô hình, năng lượng, thế năng … chúng ta không vượt qua được. Tuy nhiên, cơ học lượng tử có thể gợi ý giúp người ta hiểu được hiện tượng này. Xin phép nhắc lại vấn đề này, có thể có quí đọc giả đã biết rất rõ, cũng có quí vị quên hoặc không quan tâm đến.

HIỆU ỨNG ĐƯỜNG HẦM

Hiệu ứng đường hầm hay lượng tử đường hầm ( Quantum tunnelling) của cơ học lượng tử cho biết hàm sóng (wavefunction) có thể lan qua bức tường thế năng. Như hầu hết chúng ta đã biết, năm 1924 LOUIS DE BROGLIE gợi ý là mọi thứ (ALL MATTER) có thể được coi là có tính chất sóng. Tất cả các hạt – điện tử protons, nguyên tử, viên đạn và ngay cả con người – đều có bước sóng.

Theo nguyên lý bất định của HEISENBERG, lượng tử được coi lưỡng tính sóng và hạt. Bất định của tọa độ phá vỡ cơ học cổ điển, nó lan tỏa không cần phải đi qua  ( without passing over) trên bức tường thế năng.

Phần viết hiệu ứng nói trên, dựa theo phần nào thông tin của Wikipedia, tuy ngắn gọn nhưng nói lên cốt lõi của vấn đề không cần phải thêm bớt, nói lên tính chất bất định của thế giới tự nhiên là như vậy đó.

Chúng ta không nên lầm lẫn Quantum tunnelling  và tunnel effect của tâm lý học thực nghiệm của BURKE (1952). Đó là cảm giác nhận biết một sự vật đơn độc ngắn hơn thực tế. Trước một bối cảnh đơn điệu, nhàm chán, người ta cảm thấy rối loạn, mệt mỏi, lúc lái xe có thể đưa tới tai nạn.

Có lẽ cần phải làm rõ hơn nữa khái niệm lượng tử đường hầm, vì nó mô tả rất giống với thực tế và lý thuyết của hiện tượng nhập định.

Người ta thường minh họa đường biểu diễn thế năng, có hình thù như một ngọn núi cao, nhọn. Mô hình này được gọi là bức tường thế năng trong vật lý. Điều này nhiều quí đọc giả quá rõ, xin phép nhắc lại.

Giả thuyết electron khi tiến tới bức tường thế năng có hệ số phản xạ là R, hệ số truyền qua là T. Nếu T = 0,02 trong 1000 electrons, có nghĩa là 20 electrons đã thấm qua đường hầm và 980 bị phản xạ trở lại.

 

 HÌNH VẼ MINH HỌA

Phần giải thích:

Gán ghép hiệu ứng đường hầm với hiện tượng nhập định có vẻ gượng ép, nôm na gọi là đôi đũa lệch. Một hiện tượng vật chất và một hiện tượng không phải là vật chất. Như vậy thiếu cơ sở về vật lý và triết học.

Có lẽ nhận xét nói trên chỉ là một cảm giác đơn sơ ban đầu. Nếu tìm hiểu ở góc cạnh học thuật, có thể người ta có một cái nhìn rất khác. Có rất nhiều hiện tượng trong thế giới tự nhiên, nói lên tính chất khả thi của thiền định.  Nếu hiểu thiền định như là một kỹ thuật, để chuyển đổi vị trí (cảnh giới theo ngôn từ thiền định) vốn có của mình, hệ quả tất yếu là có những khả năng khác bình thường. Mà thực tế cho biết là có thật. ( có thể có quí đọc giả nhờ thực hành thiền định đã chứng nghiệm).

Vật lý cho biết ít khi sai lầm khi trông đợi những đối xứng cơ bản của thế giới tự nhiên. Với khái niệm đối xứng, chúng ta có hai con người, nếu phá vỡ đối xứng, chúng ta có vô số con người. Như thế các giai đoạn thiền định có vẻ khả thi ít nhất trên lý thuyết.

Ngày hôm nay, vướng lượng tử ( quantum entanglement) cho biết. Một photon có thể xuất hiện ở nhiều nơi cùng một lúc, cách xa nhiều năm ánh sáng. Ở trạng thái lượng tử nhiều vật thể vẫn có liên hệ với nhau, tương tác này, dường như ngay lập tức. Tuy nhiên, tương tác này không thuộc về bốn tương tác cơ bản đã biết, nó có lẽ còn thách thức cả hấp dẫn của hố đen. Nếu tâm chúng ta được coi là lượng tử, hay cái gì tương tự, thì nó có thể cũng có những tính chất tương tự. Một thí dụ đơn sơ, người ta ở đâu và vào thời điểm nào là do ý muốn của mình. Trong lúc định tâm, việc này thấy rất rõ ràng. Do đó, người ta biết về quá khứ và tương lai không phải là điều khó hiểu. Vấn đề biết tương lai mang tính chất tương đối, vì nó còn lệ thuộc ở nhiều yếu tố chủ quan, cụ thể là con người có tự do để nghĩ và hành động theo ý muốn của mình. Do đó, khái niệm này không công nhận thuyết định mệnh, có nghĩa là, con người chỉ là một con rối.

                        Ngẫm hay muôn sự tại trời …

                         Bắt phong trần phải phong trần.

Cũng có câu:

                        Có trời mà cũng có ta

Đứng về mặt triết học, khái niệm “Vạn vật vi nhất thể” được cả Lão Tử cũng như Parmenide, sau này là Zenon, triết  gia Hy Lạp, cùng chia sẽ. Với Đạo Đức Kinh “Đạo sanh nhất, nhất sanh nhị…” Parmenide cho là thực tại là đơn nhất, biểu hiện là ảo tưởng trong “con đường chân lý”

                        Có âm dương có vợ chồng

                        Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê

Nếu gọi là một lý thuyết, thì triết thuyết của Lão Tử hoàn toàn không phải là một tôn giáo. Tôn giáo hóa là do con người, nó giống một dạng vật lý lý  thuyết thì đúng hơn, nói về những nguyên động lực vận hành tất cả mọi thứ. Cụ thể như sau: Đạo là nguyên nhân đầu tiên, không có tên tạm gọi là thực thể siêu nhiên. Lực tương tác là thái hòa – dạng lý thuyết thống nhất của ngày hôm nay – Đạo có vẻ như năng lượng, sanh ra hữu hình, có vẻ như khối lượng tự phân: 2, 3 vạn vật, vạn vật có âm, dương giống như điện tích vv…

Thuyết Big bang khá giống với lý thuyết cổ xưa. Vũ trụ có kích thước Planck 10 – 33cm – 10 lũy thừa trừ 33cm. Sau 14 tỉ năm, vũ trụ có kích cỡ 93 tỉ năm ánh sáng. Nói tóm lại, lượng tử là vũ trụ đồng nhất thể.

Nếu hiểu thế này, thì nhập định chỉ là thực hành triển khai các quy luật của thế giới tự nhiên, các cảnh giới chỉ là tiến trình để đạt đến: đạo, đến cái gì không có tên, không sanh, không diệt, vô hạn, thường hằng, ở trên cả cảm giác và ý niệm.

Hình như thực hành thiền định thực tế, người ta có thấy điều này, chỉ còn lại cái không thể diễn tả, nó ở ngoài ngôn ngữ tế nhị nhất của loài người.

Đầu thế kỷ 21, chủ nghĩa thực dụng, là bề nổi của tảng băng, có phần chìm là chủ nghĩa duy vật triệt để, quá khích, điều này được tìm thấy trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Những quí vị có “ eo con kiến, vòng 1, vòng 2 vv…” phải chấp nhận dù muốn hay không phát biểu “các hệ thống của thế giới tự nhiên hướng về tiến trình của trạng thái càng ngày càng hỗn loạn”. Đây là khái niệm ENTROPY, Căn cứ vào định luật thứ 2 của nhiệt động lực học, tiến trình tự nhiên về lâu dài ENTROPY luôn luôn tăng lên. Mọi thứ bỏ mặc, nó cũng tự xuống cấp. Sinh vật nói chung con người nói riêng, khai thác năng lượng xung quanh mình để cũng cố tổ chức. Chính những gì hấp thụ dễ chuyển hóa và bài tiết, cũng ẩn chứa ENTROPY. Định luật thứ nhất hình như không có ngoại lệ, định luật thứ hai thì có tính chất có thể có trên lý thuyết, nhưng không phải là xác xuất.

- “Si vis pacem, para bellum” có lẽ nên tự cứu mình trước khi quá chậm ( muốn hòa bình phải lo chiến tranh)

 Cung Oán Ngâm Khúc mô tả ENTROPY như sau, của một cung phi nhà Tần nào đó

                       Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                      Trăm năm nào có gì đâu

                      Chẳng qua một nắm cỏ lau xanh rì.

Có tài liệu cho là, lịch sử loài người có 70 tỉ người đã chết. Có tác giả của một tài liệu nói về cận tử cho là: nếu chết là hoàn toàn chấm hết, thì chẳng có gì phải nói. Tuy nhiên, nếu chết lại là một chuyến đi xa, mà không có sự chuẩn bị nào cả, thì có lẽ khá thiệt thòi… Mà thực tế thì ai cũng biết, chết dường như chưa phải là dấu chấm hết. Bình dân, phổ quát nhất là hiện tượng ma. Chỉ cần sợ ma, là ma đã hiện hữu trong thế giới tư tưởng. Thế giới tư tưởng nếu không có, thì tại sao ta lại sợ? Thế giới tư tưởng là một thành viên của đời sống chúng ta.

 

CÓ THỂ ĐÂY CŨNG LÀ MÔ HÌNH ĐƠN VỊ TÂM LÝ, TRONG TIẾN TRÌNH NHẬP ĐỊNH


 

 Vẫn dựa vào hệ thức bất định của HEISENBERG, còn có một cách giải thích khác nữa. Nếu độ bất định về tọa độ lớn hơn bề dày của bức tường thế năng. Độ bất định về vận tốc đủ lớn, tạo ra bất định về năng lượng có thừa để vượt qua bức tường. Electron có thể tìm thấy ở bên phải của bức hình.

NGUYÊN LÝ BẢN THỂ CỦA KHOA HỌC TÂM LÝ.

(Principle de substance)

Substance est id quod substat accidentibus: bản thể không thể hiện hữu, nếu không có tùy thể. Đây là câu nói nổi tiếng khi nói về nguyên lý bản thể của khoa học tâm lý, có thể quí đọc giả đã biết.

Một hiện tượng nào đó, kể cả hiện tượng tâm lý, còn được gọi là tùy thể, đòi hỏi phải có một chủ thể hay một thực tại thường xuyên. Thí dụ đơn giản dễ hiểu: không thể có ánh sáng mà lại không có nguồn sáng. Không thể có sự sống mà lại không có vật sống vv… các hiện tượng tâm lý cũng vậy, có hiện tượng tâm lý thì phải có chủ thể tâm lý. Tóm lại, bản thể và tùy thể đều phải dựa vào nhau, dính vào nhau, không thể tách nhau ra được. Tâm lý học cổ điển cho là, cả bản thể, tùy thể tâm lý cũng thuộc về một bản thể. Bản thể thì tĩnh, thường hằng. Tùy thể thì động, luôn thay thay, đổi đổi. Chúng ta tự quan sát chính mình, nó có vẻ phù hợp với kinh nghiệm thực tế và lý trí. Tựu chung, nó nói lên một bản ngã độc nhất của con người, tùy vào cách gọi: chân ngã, linh hồn …

Quan sát mô hình nguyên lý bản thể, làm cho người ta liên tưởng mô hình của những bức tường thế năng trong thế giới của các hạt vi mô. Bức tường thế năng giam giữ các điện tử trong nguyên tử, giam giữ proton và neutron nằm yên trong hạt nhân, giam giữ các điện tử tự do không thể thoát ra mặt ngoài kim loại.

Tương tự bản ngã duy nhất của con người thì tĩnh và thường hằng, có nghĩa là ở yên một chỗ, phải nói khá giống với proton và neutron. Các tùy thể ( cảm giác, ký ức, chú ý, khoái lạc vv…) cũng có một dạng bức tường thế năng, không thể tách ra khỏi bản thể, điều này căn cứ vào nguyên lý bản thể và căn cứ vào  kinh nghiệm thực tế của chính mình. Quí đọc giả tự hỏi có thể tự tách các yếu tố tâm lý: cảm giác, ký ức, ý chí, tiềm thức… ra khỏi chính mình không? Tất nhiên là không thể làm được.

 

 NHỮNG THÔNG TIN NÓI TRÊN, THUYẾT MINH  ÍT  NHIỀU CƠ SỞ KHẢ KIẾN CỦA HẰNG SỐ 7 VÀ NHỮNG HỆ QUẢ.

Một con người bất kỳ có bao nhiêu đơn vị tâm lý? Không có tài liệu nào có thể trả lời được câu hỏi này. Thực tế cũng như lý thuyết, đỉnh cao của lúc định tâm chỉ còn một đơn vị tâm là: nhứt tâm. Hiện tượng này chưa có ai giải thích, chỉ biết nó là như vậy, nhiều ngàn năm, người ta chấp nhận mặc nhiên như một qui ước.

Bình thường chúng ta có rất nhiều đơn vị tâm, điều này có lẽ ai cũng biết. Thực hành thiền định thì có một bức tường thế năng ngăn cách. Do đó, chúng ta không thể nhập định được. Nhưng do sử dụng một loại kỹ thuật nào đó, người ta đạt được trạng thái định tâm. Tuy nhiên, số lượng tâm còn lại rất ít. Hiện tượng này có thể được giải thích theo lượng tử đường hầm, hệ số tâm phản xạ rất lớn, hệ số tâm truyền qua rất nhỏ đối với bức tường thế năng, giả thuyết có 500 đơn vị tâm, có 5 đơn vị tâm ( tầm, tứ, nhứt tâm, hỉ, lạc) thấm qua bức tường, xác xuất của hiệu ứng là 1%, xác xuất không xảy ra là 99%.

Một thử nghiệm đơn giản, ai cũng làm được một cách có chủ ý, chúng ta nghĩ mình đang ở đâu thì thấy mình sẽ ở đó, thấy rất rõ, nhất là trong lúc nhập định. Tại sao lại có thể vượt qua bức tường thế năng dễ dàng như vậy? như phần trên đã trình bày, nếu độ bất định về tọa độ lớn hơn bề dày của bức tường thế năng, thì chúng ta có thể ở bên này hoặc bên kia bức tường.

Mặt khác, lúc sử dụng yếu tố ý chí và chú ý quá mạnh trong kỹ thuật nhập định, làm cho vận tốc của một số tâm lượng tử đủ lớn, tạo ra độ bất định về năng lượng đủ lớn, để vượt qua chiều cao của bức tường thế năng, sang bên kia bức tường.

Dù những phần trên mang tính chất giả thuyết. Tuy nhiên, nó cũng rất đáng quan tâm, các đơn vị tâm lý cũng có tính chất năng lượng đứt đoạn. Biết đâu có ngày người ta tìm ra hằng số của lượng tử tâm.

 

CÓ THỂ

Do hệ số truyền qua và hệ số phản xạ của các đơn vị tâm, tại bức tường thế năng, là lý do số lượng đơn vị tâm, dần dần thu nhỏ, đến biến mất, trong tiến trình thiền định.

Thực tế, nếu ai đó thực hiện thành công thiền định, đều cảm nhận thiền định có một tiến trình nhất định nào đó, cụ thể là, các đơn vị tâm lý thu hẹp lại từ từ, cuối cùng đỉnh cao là không còn đơn vị tâm lý nào cả. Tùy trường phái, cá nhân đặt cho cái tên khác nhau, cũng có thể chẳng có cái tên nào cả. Rất có thể có đọc giả độc lập, đã cảm nhận điều này. Thực hành thiền định thành công ở một chừng mực nào đó là một việc rất khó. Tuy nhiên, không phải là một việc bất khả thi.

Tài liệu cổ điển cũng ghi nhận về tiến trình của thiền định, số lượng đơn vị tâm được ghi nhận như sau: có vài đơn vị tâm lý chính và 35 tâm phụ - được gọi là tâm Vương và tâm Sở - Số lượng đơn vị tâm lý nhỏ đi từ từ, cuối cùng tất cả  các đơn vị tâm lý hoàn toàn triệt tiêu.

Nếu dựa vào hiệu ứng đường hầm, thì hiện tượng nhập định và chuyển đổi cảnh giới theo chiều dương, có nghĩa là từ giai đoạn thiền số 1 sang số 2 vv… ( sơ thiền, nhị thiền vv…) có thể được hiểu như sau:

Một số đơn vị tâm lý, thí dụ: ý chí, chú ý, ký ức vv…, đã được một bản ngã nào đó, sử dụng làm nguồn năng lượng hướng về mục đích nhập định.

Tiến trình hữu hướng này vướng vào nhiều bức tường năng lượng. Do đó, hiệu ứng đường hầm đã xảy ra. Tại sao? Điều này cho chúng  ta thấy, các giai đoạn thiền định (cảnh giới) là một trường phái khác biệt. Vì thế, mới có hiệu ứng đường hầm. Cũng chính hiệu ứng này có thể hiểu tại sao số lượng đơn vị tâm lý ngày càng nhỏ đi một cách có hệ thống. Cuối cùng là triệt tiêu.

Theo tài liệu cổ và cũng căn cứ vào thực tế thực hành thiền định. Khi số lượng đơn vị tâm còn lại là: 5 đơn vị tâm chánh như sau ( theo tài liệu Vi Diệu Pháp).

  • Cố gắng tìm một đối tượng để chú tâm ( Tầm)
  • Cố gắng duy trì tình trạng này ( Tứ)
  • Tâm lý đứng yên (Nhứt tâm)
  • Vui mừng vì làm được việc này (Hỉ)
  • Cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ (Lạc)

Còn phải kể đến khoảng 35 đơn vị tâm nhỏ hơn, yếu ớt hơn - tài liệu này có nhắc đến nhiều lần - Hiện tượng tâm lý này hoàn toàn vô nghĩa và có vẻ ngây ngô với cuộc sống đời thường. Chỉ có ai thực sự nhập định mới cảm nhận được. Trạng thái tâm lý này đã có từ nhiều ngàn năm. Tuy nhiên, không hề có một trường phái tâm lý học nào ghi nhận cả. Không biết đến bao giờ, hiện tượng nhập định mới được người ta thực sự quan tâm.

Hiện tượng này xảy ra phải có hai yếu tố cần và đủ:

1-     Năng lượng hữu hướng được kích hoạt nhằm thay đổi trạng thái cái gì đó ( thí dụ: trạng thái tâm lý bình thường)

2-     Được truyền qua hai môi trường khác nhau ( môi trường tâm lý bình thường, môi trường tâm lý định tâm, các giai đoạn định tâm khác nhau)

Ngược lại nếu thiếu hai yếu tố nói trên, thì hiệu ứng đường hầm sẽ không có.

Tại sao chúng ta không thể duy trì thời gian nhập định trên 7, 9 phút, thời gian định tâm (còn gọi là nhập định) lâu dài, liên tục?

Tổng thể mà nói, có nguồn gốc từ bản năng bảo tồn, như có một đồng hồ sinh học khá chính xác, cơ thể vật lý cần phải thỏa mãn những nhu cầu sinh lý để tồn tại. Hấp thụ, chuyển hóa, bài tiết… là không thể tránh được. Chúng ta không có khả năng ngủ đông như: sâu lông, gấu Bắc Cực vv…

Từ một tế bào sống (living cell) trong một tổ chức nào đó, nó chính là một bộ máy đang sinh sống (living machine). Giống như tất cả các bộ máy nó cần phải được cung cấp năng lượng. Nguyên lý để tiêu thụ thực phẩm của cơ thể con người cũng giống như việc một cái máy tiêu thụ xăng, dầu…

Nguồn năng lượng của chúng ta không phải là vô tận, kể cả vật chất và tinh thần. Nó bị chi phối bởi các định luật tâm lý và nhiệt động lực học như tất cả mọi thứ. Với quan điểm thận trọng của khoa học, người ta chưa có thể nói có hay không, với các nguồn năng lượng đại loại như: prana vv… có tài liệu liệt kê trên 30 loại, được hấp thụ qua các Chakras. Ngoài các huyền thoại, tài liệu… không thấy thực tế ai có thể nhập định lâu dài, được các nhà khoa học ghi nhận. Còn thân xác vật lý, có lẽ nên chấp nhận những qui luật chi phối thế giới tâm lý, vật lý, có người gọi là tình trạng “hữu dư” bao giờ không còn thân xác vật lý thì gọi là “vô dư”.

Nhìn ở góc cạnh năng lượng, tâm lý chúng ta thường xuyên ở trong tình trạng hỗn loạn (trừ lúc tập trung vì một lý do nào đó). Muốn tâm lý ở vào một tổ chức, chúng ta phải nhờ vào ý chí (volouté). Ý chí  được tâm lý học mô tả là một  lực, ý lực (idée force), lực lượng tư tưởng, nguồn lực vv… Trong khi làm công việc đưa tâm lý chúng ta vào một hệ thống có tổ chức. Một số năng lượng bị lãng phí do thất thoát. Nói một cách khác, năng lượng của ý chí bị xuống cấp, một số năng lượng không còn hữu dụng.

Kể cả trong lúc đang định tâm, não bộ sử dụng năng lượng rất nhiều, chúng ta không thể lấy ra nhiều hơn số năng lượng mình có.

Định tâm là một trạng thái tâm lý, tất nhiên là hữu ngã, có một chủ thể tâm lý, một bản ngã. Vậy đây có phải là một hệ cô lập hiểu theo vật lý. Thực tế khi có một quá trình xảy ra, thời gian đồng biến với Entropy.

Đó có thể là lý do chúng ta không thể định tâm liên tục và lâu dài. Nói chung, chúng ta không thể thoát ra khỏi khái niệm Entropy (concept of entropy).

Trong khái niệm Entropy, quá trình thuận nghịch không có trong thế giới tự nhiên và ngược lại. Quá trình này có thể giải thích ít nhiều hiện tượng nhập định.

Do đam mê, ý chí, chú ý vv… được tập trung vào kỹ thuật để đưa đến nhập định, việc này làm cho Entropy tăng lên rõ rệt. Có thể sau 7, 8, 9 phút. Năng lượng cạn kiệt từ từ. Entropy giảm đi, số lượng đơn vị tâm giảm đi. Đó có thể là trạng thái định tâm. Nếu hiện tượng quá trình thuận nghịch liên tiếp xảy ra, có thể đó là một lối giải thích và việc chuyển đổi vị trí, cảnh giới. Đây chỉ là một trong những giả thuyết, phải chờ đợi xem nó có phù hợp với thực nghiệm hay không. Thật ra, các định luật vật lý lúc đầu, cũng chỉ là những phát biểu bằng lời nói như chúng ta đã biết.

Mô phỏng (tiếng anh là Simulation), lại thêm một mô hình giả thuyết, mà có lẽ người ta cũng nên quan tâm. Tại sao? Văn chương cũng như nhiều tôn giáo, hay mô tả cuộc sống của con  người là ảo ảnh, không có thật. Đó là một vở kịch do một thực thể siêu nhiên chế tác, đạo diễn.

Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán

Chết đuối người trên cạn mà chơi

Lò cừ nung nấu sự đời

Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương…

… Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy

Kiếp phù sinh trong thấy mà đau…

… Quyền họa phước trời tranh mất cả

                                    Cung Oán Ngâm Khúc

Từ ngữ MAYA được các tôn giáo Ấn Độ dùng để mô tả cuộc sống vật chất mà con người đang sinh hoạt là ảo ảnh, ảo giác, không có thật. Trung Quốc cũng chia sẽ ý nghĩ này. Đời con người có lẽ chỉ là những giấc mộng. Cả một cuộc đời  chỉ bằng thời gian nấu một nồi kê chưa chín. Kinh thánh cũng cho biết, khi vở kịch chấm dứt, ở cuộc phán xét cuối cùng, con người sẽ có một cuộc sống khác, hiền lương và tội phạm sẽ được phân chia, vàng ra vàng, than ra than.

Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, khoa học và triết học lại nhớ ra, ý nghĩ về cuộc sống này có lẽ là ảo, con người chỉ là những nhân vật trong một trò chơi điện tử phổ thông.

Từ đây người ta có thể đưa đến một nhận xét. Thiền định có nhiều hy vọng, là một công cụ thực tế tích cực, tự mình giải thoát chính mình ra khỏi nhân vật ảo, trong một kịch bản ảo. Ý nghĩ này thật ra chẳng có gì là mới mẻ, nó đã có cách đây trên 2000 năm trong phần đầu của chân ngôn PATANJALI. “Ngăn chặn vọng tưởng phát sinh, chân ngã hiện nguyên bản thể. Vì chân ngã không bị đồng hóa lẫn lộn với ý tưởng”

Nói tóm lại, qua rất nhiều khái niệm đã được đề cập đến ở trên, có thể có những khái niệm mâu thuẫn với nhau, đó là ở mặt tiêu cực. Tuy nhiên, xét ở mặt tích cực, nó vẫn có mẫu số chung, làm dấy lên hy vọng, thiền định có vẻ khả thi, có một tương lai hứa hẹn để hy vọng.

 

 

TƯỢNG TRƯNG CÁC GIAI ĐOẠN ĐỊNH TÂM

 

 

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 25/12/2020