Con mắt thứ ba - TỔNG KẾT SƠ BỘ

                                        TỔNG KẾT SƠ BỘ TỪ ĐẦU TÀI LIỆU CHO ĐẾN PHẦN THỰC HÀNH

 

Có lẽ đây là một công việc xây dựng thực sự một bộ môn từ A tới Z. Như nhiều lần tài liệu này có đề cập, là không có gì có thể xuất hiện từ hư vô. Đây là việc hồi sinh những lý thuyết, đúng hơn là chủ thuyết (DOCTRINE) cổ điển, thiếu tính chất thực dụng. Do đó, việc hệ thống hóa, tìm ra những hằng số, định đề cơ bản, khó khăn nhất là thử nghiệm, để đưa đến việc đánh giá khách quan mức độ tin cậy. Chắc quí đọc giả cũng biết, hiện tượng tâm lý mang hai tính chất quan trọng nhất là: nột tại, hữu ngã, cá thể tính. Có nghĩa là ở trong ý thức tâm lý của một cá nhân riêng biệt. Việc này được thử nghiệm có lẽ nhiều triệu lần trong khoảng bốn thập kỷ. Công cụ để tìm hiểu chính là khả năng ý thức tự gấp lên chính mình, gọi là khả năng nhị trùng của tâm lý học.

Xét về mặt cấu tạo và cơ học, thì đại bộ phận con nguời đều giống nhau về mặt tâm lý. Do đó, khi mang  ra thực hành ở 2, 3 cá nhân đều có kết quả tích cực mà lý thuyết mong đợi, chứng tỏ phương pháp tâm lý nội quan đến nay là hữu hiệu, thực tế. Giả thuyết cơ học thiền định có những tín hiệu bước đầu lạc quan, có thể đó là viên đá nền nhỏ bé, nhưng mang tia hy vọng xây lên tòa nhà lý thuyết (theory – theorie) khoa học đồ sộ của bộ môn thiền định. Tất nhiên, phải chờ đợi kết quả xét nghiệm trên diện rộng. Trước nay chỉ là việc làm hạn hẹp của một cá nhân, với giả thuyết của mình, dự đoán về các hiện tượng, định luật, hằng số của thế giới tự nhiên trong tâm lý con người của bộ môn thiền định.

Xây dựng một lý thuyết chưa từng có, có thể là một việc làm liều lĩnh và ngớ ngẩn. Chơi xúc xắc (DICE)  với Thượng Đế khả năng thua là rất cao. Einstein từng bảo Thượng Đế không chơi bài xúc xắc thì phải!

  • Tiến bộ của khoa học, được trả giá bằng nhiều sinh mạng của con người không là chuyện lạ trong  tiến trình lịch sử khoa học.
  • Sau Becquerel phải kể đến Marie Curie. Phóng xạ Radioactif ra đời trong một căn phòng bỏ trống tồi tàn, mưa lạnh lẽo… đã cứu nhiều triệu người sau này. - Riêng Marie Curie lại chết vì phóng xạ -
  • Nếu nhìn theo góc cạnh lịch sử học thuật, thì thiền định là đặc sản của Ấn Độ, thoát thai từ Ấn Độ giáo. Khó có thể phân biệt các trường phái riêng biệt, trong sự tăm tối của lịch sử.  Nên gọi chung là thiền định Ấn Độ có lẽ khách quan hơn. Ngoài Ấn Độ, hình như không có nơi nào khác trên thế giới có bộ môn thiền định.  Kể cả đến ngày hôm nay, người Âu Mỹ vẫn không có từ ngữ thiền định theo đúng nghĩa. Trường phái Lão Tử không có một tài liệu nào về kỹ thuật thiền định cả. Các đạo sĩ Trung Quốc  thực sự họ tập luyện cái gì thì không ai biết rõ. Thật vậy, đạo đức kinh, nếu thực sự của Lão Tử, thì có vẻ như một tài liệu triết học thì phải,  thuộc phần siêu hình học như mọi trường phái khác. Đứng về mặt thực hành, nếu quí đọc giả là người thực hành thiền định ít nhiều chuyên nghiệp, đều nhận thấy một số trở ngại không vượt qua được, xin phép được nêu sau đây:
  1. Kỹ thuật nhập định
  2. Trạng thái định tâm
  3. Không thể duy trì trạng thái này lâu được.

Kỹ thuật nhập định:

Không có tài liệu nào, vị thầy nào, có một chủ thuyết kỹ thuật  chính quy quy ước nhập định hiệu quả thực tế, đã được thực nghiệm.

Phán xét khách quan có cơ sở khoa học tối thiểu, kể cả ở trạng thái định đề (POSTULATE) tất cả chỉ là ngẫu hứng tự phong. Nếu chúng ta tìm xem một số trang web về bộ môn này bằng tiếng Việt Nam, sẽ thấy các học viên liên tiếp đề nghị các vị thầy cho đề tài mới, được quen gọi là công án (CASINA) theo từ ngữ thiền định.  Chính quí đọc giả cũng nhận ra điều tương tự cho chính mình. Rất có thể, cả vị thầy cũng rơi vào tình trạng này, không biết giải quyết làm sao, càng khó khăn hơn, vì lỡ ở vào vị thế một người thầy, người thế gian tôn vinh là thiền sư, đạo sư ( người chỉ đường) vv…

Khó khăn này, có lẽ đã hiện hữu và tồn tại, ngay từ ngày bộ môn thiền định này tình cờ ra đời ở Ấn Độ, có lẽ vào thời Áo nghĩa thư.

 

Trạng thái định tâm:

Hiện tượng tâm lý định tâm này có vẻ hoàn toàn có thật trên thực tế. Rất có thể có quí đọc giả dù bất cứ ở trường phái nào đó, đã có cơ hội chứng nghiệm trên thực tế do tình cờ. Tuy nhiên, sau đó quí đọc giả muốn tự mình nhắc lại một cách chủ động hiện tượng này thì không làm được, cố cách nào cũng  không làm được. ( Xin phân biệt sự khác biệt giữa định tâm do thiền định và việc bị ma nhập  - còn gọi là đa nhân cách – cũng do thiền định có nguồn gốc từ dục vọng quá lớn)

Thứ nhất, vì chúng ta chẳng hiểu hiện tượng tâm lý này nó là cái gì. Thứ hai, chúng ta không có một kỹ thuật chính xác nào cả, để hy vọng lặp lại trạng thái tâm lý khác thường này. Thật ra, việc chúng ta có trạng thái nói trên chỉ là do tình cờ, ngẫu nhiên.

- Có thể những quí vị UPANISHAD thửa xưa cũng rơi vào tình hình này. Do chú tâm tụng niệm cao độ và liên tục, ý thức mất đi tạm thời, một trạng thái tâm lý bất thường xuất hiện, họ ít nhiều chứng nghiệm chân ngã lần đầu trong lịch sự. Có thể lịch sử thiền định đã bắt đầu như thế này.

- Việc này tồn tại cho đến ngày hôm nay. Tại sao lại vậy? Có lẽ đây là một công việc quá mơ hồ, không đáp ứng được nhu cầu thực tế của cuộc sống đời thường. Chủ nghĩa duy vật cực đoan, chủ nghĩa thực dụng quá khích, đáp ứng hiệu quả nhu cầu thực tế cho xã hội loài người ở hầu hết các lĩnh vực, thắng thế tuyệt đối.

Không thể duy trì trạng thái này lâu được

Căn cứ vào thực tế, chúng ta có thể tình cờ hay chủ động, có được trạng thái gọi là định tâm (trạng thái này có một phổ rất rộng, chưa xác định được, xin lưu ý), ở trạng thái này ai cũng mong muốn duy trì lâu nhất có thể, theo sinh lý học thì giải thích, trạng thái này tương tự như người sử dụng ma túy, một số hóa chất được kích hoạt:  dopamine, Noradrenaline, serotonine vv…  Tài liệu cổ điển mô tả là: hỷ, lạc … rất chính xác. Khác biệt là những hóa chất này, giảm từ từ sau khi xuất định. Với ma túy sẽ có sự tụt giảm đột ngột, người ta mô tả “như mèo cụp đuôi”. Thần kinh giao cảm và đối giao cảm bị mất cân bằng nội môi. Người thiền định cũng “ghiền” thiền định, thích ở một mình để thiền định cũng dễ hiểu. Có cách nào để ngăn chặn hiện tượng “thối định” này? Tại sao lại có hiện tượng này?. Theo huyền sử thì quí ngài Sakya Muni ngồi ở một vị thế thiền định trong thời gian 49 ngày. Tại Việt Nam hôm nay, cũng có một vị đưa ra thông tin, có kịch bản tương tự về nội dung và thời gian cũng là 49 ngày thì phải. Đứng về mặt sinh học và tâm lý học, thì việc này có vẻ khó thực hiện. Năm 2006, UCHIKOSH, bất tỉnh 24 ngày được coi như ngủ đông không uống nước.

Có thể còn nhiều vấn nạn khác, thí dụ: thiền định đưa chúng ta đi về đâu, liệu chúng ta có tự do để lựa chọn nơi đến, dựa vào công cụ thiền định? Nếu không thiền định thì có bao nhiêu khả năng  vv...

Kết quả thử nghiệm

Kính thưa quí đọc giả, với tinh thần khoa học thực nghiệm của thế kỷ 21, lý thuyết cần phải được xét duyệt bằng thực nghiệm khách quan. Giả thuyết cơ học thiền định cũng không ngoại lệ. Rất mong có ngày nào đó, sẽ được cơ quan có thẩm quyền chức năng xét duyệt mở đâu đó trên thế giới.

Hiện tại tài liệu này được thử nghiệm ở hai cá nhân. Thời gian là: một người khoảng 6 năm, một người khoảng 3 năm, giới tính nam, sức khỏe trung bình, có gia đình, có việc làm ổn định, tuổi đời trung niên, trên trung niên.

- Nhập định được khoảng từ 70 đến 90%, thời gian trên 1 giờ tới 3 giờ.

- Lệ thuộc khá nhiều ở trạng thái tâm lý, lúc sử dụng kỹ thuật của tài liệu này -  thường xuyên ra khỏi thân xác vật lý khi ngủ, dân gian gọi là xuất hồn thì phải.

- Phản ứng phụ (side effect -  effet secondaire)

Không thấy phản ứng phụ tiêu cực về mặt tinh thần và  vật chất trong nhiều năm ở  cuộc sống đời thường.

- Không có khả năng để thử nghiệm trên diện rộng.

- Dự định làm hội thảo tại trường Đại Học ở một nước nói tiếng Anh, nhưng vì dịch covid nên chưa làm được.

- Xin xác định, tài liệu này chỉ là một kỹ thuật, dựa vào khoa học đa ngành, hoàn toàn không phải là một tôn giáo, không có gì là huyền bí cả. Tài liệu này không có ý định quản bá cho một chủ nghĩa triệt để vô thần, mà chỉ muốn nói lên tính chất giới hạn, hữu hạn, nên được gọi là một chủ thuyết. Tránh việc tôn giáo hóa, mê tín hóa và thần thánh hóa.

Xin phép nhắc lại có lẽ là nghịch lý của SOCRATE hay PLATON mà quí vị đã biết rất rõ khi còn đi học “DIEU SEUL SAIT VRAIMENT” ở dạng tích cực. Xin phép “thoát dịch” chứ không  phải là “phỏng dịch”. Thượng Đế hay chân lý có cùng một ý nghĩa và là một. Thật vậy, lịch sử khoa học không phải là một siêu xa lộ. Xin nhớ lại, địa tâm thay cho lý thuyết túp lều vũ trụ. Sau đó, khó khăn lắm nhật tâm mới dành được vị trí của địa tâm, cuối cùng thì hiện nay, cả hai thuyết đều không đúng với thực tế. Nói chung, thành quả nào của khoa học đều phải trả giá, ít nhất là các cơn đau đẻ lâu dài vô cùng khó khăn, trước khi được mọi người công nhận, thời gian có thể là 100 năm, 1000 năm hay hơn thế nữa…. Thí dụ, Democritos (460 – 370 trước CN), mới gần đây người ta mới nhớ lại thuyết nguyên tử thô sơ. Giả thuyết cơ học thiền định cũng chỉ là một hình thức, nói lại thuyết thiền định cổ điển của Ấn Độ, với công cụ thuyết minh là khoa học đa ngành, với họa tiết thẩm mỹ của thế kỷ 21. Tuy nhiên, tán thán từ của hầu hết các ngôn ngữ phổ thông đều được mặc khải (REVELATION)  để gọi Thượng Đế một cách bản năng: Trời ơi!,  Mon Dieu, My God, oh mein Gott vv…

 

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 8/10/2020