Con mắt thứ ba - SỐ 7 – HẰNG SỐ CƠ BẢN

                               SỐ 7 – HẰNG SỐ CƠ BẢN, CÓ KHẢ NĂNG ĐƯA TỚI TRẠNG THÁI ĐỊNH TÂM.

 

Nguồn gốc của việc phát hiện hằng số 7.

- Ai đó là tín đồ của chủ nghĩa thiền định bảo thủ chuyên chánh, triệt để, có lẽ sẽ không giấu được tâm lý ngạc nhiên. Ủa! thiền định mà cũng có hằng số sao?

- Đầu tiên hãy tìm hiểu sơ qua về việc phát hiện ra một cái gì đó, người ta còn gọi là phát minh (latinh invenire) có nghĩa là tìm ra. Lịch sử hay mô tả là tình cờ, thí dụ: lực hấp dẫn, thuốc trụ sinh, thật ra, SOPHOCLE bảo “người ta tìm thấy cái mà người ta đang đi kiếm ( SOPHOCLE – ce qu’on cherche , on le trouve). Nói như vậy có lẽ đúng hơn với thực tế. Không có phát hiện nào là dễ dàng cả, từ nhỏ đến lớn. Tất cả đều phải là sự trả giá của tất cả các mặt. “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

- Hằng số chẳng phải là riêng của vật lý hay toán học, nếu hiểu là, một con số nào đó có ý nghĩa đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó. Nó có đầy trong cuộc sống đời thường. Có lẽ ai tham gia giao thông cũng bị phạt vì “hằng số” tốc độ giao thông. Người ta đo “hằng số” độ cồn trong hơi thở. Đơn vị tiền cũng là một hằng số vv…

- Hằng số nhập định số 7, ra đời như bao hằng số khác, nó là sự tìm hiểu, dò dẫm từ các hiện tượng tự nhiên, rồi từ thực hành cho đến lý thuyết, lại kiểm tra lại từ lý thuyết cho đến thực hành, kéo dài trong nhiều thập kỷ. Công cụ là khả năng nhị trùng kinh điển.

- Tìm hiểu để hệ thống hóa, số hóa, một cái gì chưa có tiền lệ, nhất là ở một hệ không thể đo lường được, chuyển đổi qua một hệ đo lường được, có vẻ là một công việc khá liều lĩnh, ngớ ngẩn và nguy hiểm thì phải. Thí dụ: Chỉ riêng trong việc tập trung cao độ để hy vọng đưa đến thực sự nhập định, là bao nhiêu lâu? Có phòng thử nghiệm ở Mỹ đưa con số là 20 phút cho đến 2 giờ, đó là một số hiệu rất có uy tín về mặt khoa học. Thực tế “hằng số” này là sự sai lầm, về vấn đề tỉ lệ thời gian và người nhập định. Đối tượng được khảo cứu để nhập định, có thực sự nhập định?  Xin nhắc lại, nhập định là một trạng thái tâm lý nội tại và hữu ngã. Làm sao người khảo cứu để lập ra hằng số nói trên biết được điều này. Mặt khác, người tham gia thử nghiệm có đến cả trăm người… một con số là kinh ngạc, nếu ai thực sự chứng nghiệm trạng thái nhập định của bản thân. Hàng trăm người chủ động nhập định để thử nghiệm, thì bảo đó là hiện tượng có một không hai, kể cả đến MACHINE LEARNING cũng không thể giải quyết được. Có lẽ chỉ có khái niệm hay lý thuyết về sắc giới mới hiểu được phần nào. Đại khái có thể hiểu như thế này, trí tuệ nhân tạo 4.0, machine learning là sắc dục giới, trạng thái thiền định chính thức là sắc thiền định, một trạng thái tâm lý không có trong cuộc sống đời thường, nó là một phát hiện nhân tạo. Có thể nói như thế này, sắc dục giới và sắc thiền định là hai hệ thống khác nhau. Minh họa, cụ thể hóa, đơn giản hóa cho dễ hiểu. Thí dụ:

                        Sắc dục giới có 300 yếu tố

                        Sắc thiền định có 30 yếu tố

Nói tóm lại, việc tìm ra được hằng số của một bộ môn chuyên biệt nào đó, là một dấu mốc quan trọng, là viên đá nền, làm cơ sở để bộ môn phát triển.

Trong lịch sử có rất nhiều hằng số mà ai cũng biết: hằng số Planok, hằng số Boltzman, hằng số AVOGADRO vv… cũng có thể, có người cho là điện não đồ có phân biệt các loại sóng về các trạng thái sinh lý khác nhau, điều này thì ai cũng biết. Tuy nhiên, nếu chúng ta bảo chứng mình chủ động lập lại một loại sóng nào đó, cùng các tham số , là một việc không thể thực hiện được. Những robot tự hành đã lên đến Sao Hỏa từ lâu, phi thuyền không gian đã ra khỏi Thái Dương hệ, vẫn tiếp tục phát tín hiệu…

Tuy nhiên, không có cái máy nào, số liệu nào đo được tâm lý con người nói riêng, sinh vật nói chung. Kể cả đến ngày hôm nay, vũ trụ cơ thể tâm lý vẫn thách thức  trí tuệ con người. Cụ thể là, các điệp viên vẫn len lỏi thành công vào các tổ chức thù địch ngay tại Mỹ vv…

Cũng có quý ngài BERNARD STIEGLER (người Pháp) muốn số hóa khả năng chú ý, nhưng chưa làm được, kỹ thuật này được coi như một dạng Pharmakon.

Ở Việt Nam, thế kỷ trước, cũng có một vị là Nguyễn Hoàng Phương, muốn số hóa tinh thần con người với toán tập mờ Fuzzy set and Fuzzy logic. Trở ngại mà quý vị nói trên là không tìm ra được mối liên hệ giữa tâm lý và con số, tóm lại, dự đoán thiên tài cũng chỉ nằm ở lý thuyết.

Có thể hằng số của tài liệu này đã biến giấc mơ thành sự thật.

Hằng số 7

Con số có ý nghĩa đặc biệt trong kỹ thuật nhập định thực tế.

  1. Số lượng yếu tố tâm lý cơ bản tham dự: 7

La passion                Đam mê                                              Dục

La volonté                Ý chí                                                    Tác ý, thắng giải

L’ attention               Chú ý                                                  Tầm, nhất tâm, tác ý

La memoire              Ký ức                                                  Niệm

L’ image                    Hình ảnh                                            Uggaha Nimitta – thô tướng

Le raisonnement     Suy luận                                             Tư, mạng căn

Le jugement             Xét đoán                                             Tư

Tiếng Pháp                         Từ ngữ tâm lý học              Từ ngữ tương đương thắng pháp tập yếu luận

 

  1. Số lượng thời gian: 7 phút

Với attention soutenue ( chú ý liên tục) nhiều tác giả đưa ra số lượng dưới 15 phút, não gia tăng tiêu thụ, đặc biệt là đường.

Nhiều hệ quả tiêu cực, hoạt động kém ở vùng gyrus  fromtal moyen.

Hằng số này tùy thuộc vào nhiều yếu tố: vật chất và tinh thần của một cá nhân. Tuy nhiên, nó vẫn có một giới hạn nào đó, khó có thể vượt qua trên thực tế, yếu tố tâm lý không  thể đo lường. Do đó, hằng số tâm lý cần phải phù hợp với đối tượng của mình. Có dao động nhưng vẫn có một giới hạn, chứ không phải vô hạn.

  1. Số lượng đối tượng của một số yếu tố tâm nổi trội.

Chú ý:              7

Bỏ qua quan điểm của các trường phái tâm lý học về việc chú ý vào hình ảnh. Ở đây chỉ nêu một số yếu tố điển hình của tâm lý học kinh điển, có thể giải thích tại sao có người  bảo: Chú ý là một cảm giác thống trị (sensation dominante) và đòi hỏi (sensation exigitive). Chính những yếu tố đã cấu tạo nên yếu tố tâm lý, là một cái tải quá nặng cho ý thức, nó là một trong một số yếu tố tâm lý, đã làm cho ý thức bị sụp đổ.

Mất cái ý thức, cái biết nội quan (conscience – sujet), có lẽ nên hiểu là cái tôi đời thường, bước vào một đời sống mới hơn, to lớn hơn, thực sự đáng sống. Chỉ có mình mình cảm nhận. Xin nhắc lại các hiện tượng tâm lý là nội tại và hữu ngã (tâm lý học cổ điển)

Xin liệt kê sơ bộ một số yếu tố của chú ý theo tâm lý học cổ điển. Rất nên suy nghĩ và ghi nhớ về các yếu tố này để vận dụng vào kỹ thuật nhập định.

Thí dụ: lúc chú ý vào các đối tượng, tự nghĩ như thế này, tôi phải chú ý vào nhiều đối tượng gọi là đa ý, việc này phù hợp với tâm lý học. Việc đang làm là tôi chú ý hồi cố (attention reflechie) lấy các hình ảnh từ kho ký ức ở tiềm thức, cận ý thức vv…chú ý của tôi là chú ý có ý chí (attention volitive) kịch bản chú ý này là chú ý đợi chờ (attention expectante), đây là loại chú ý nội giới, vì ở trong tôi (attention interieur). Tôi chú ý vì có lợi cho tôi nên tôi thích vv… hiện tại tôi đang chú ý (attention actuelle) vào các đối tượng là các con số, hình ảnh chữ . Những yếu tố  kể trên, tự sắp xếp vô tình trở thành một kịch bản, một dạng Mandala tự chế, “ngon, bổ, đẹp, rẻ”. Một thứ “thần chú” thừa sức đưa chúng ta tới định tâm. Nếu chúng ta thực hành nghiêm chỉnh. Vì nó thỏa mãn trên cả hằng số định tâm 7 của tài liệu này. Đây là một thí dụ đơn giản, dễ thực hành, điển hình, dễ thành công, có lẽ ai cũng làm được. Nó nói lên tính chất đơn giản, hiểu quả của hằng số định tâm 7. Xin phân biệt, hằng số này khác hẳn với +- 7 của George Armita Miller  vì hằng số này dựa trên một cơ sở hoàn toàn khác, có một kích cỡ to lớn, tổng quát, sẽ được trình bày sau này.

Ký ức  - hoài niệm – hồi cố   7

Ký ức ở đây không phải được tìm hiểu ở góc cạnh tâm lý học, mà được tìm hiểu nó đóng vai trò gì, mà có thể đưa tới nhập định. Chỉ nói riêng về trí nhớ, ai cũng biết trí nhớ nằm trong não bộ. Đó là nơi ghi nhận và tồn trữ. Từ một người đi xe máy, cho đến một phi hành gia đều phải có một dụng cụ để bảo vệ não bộ.

Quí đọc giả vui lòng xem hai tấm hình mô tả sơ sài những vùng trách nhiệm về đủ mọi thứ: ngôn ngữ, tính toán, ngửi, nghe, nhìn, đọc vv… xin phép nhắc lại, nhìn và hiểu về cái nhìn, nghe và hiểu về cái nghe. Tâm lý học cho biết, biết có nghĩa là nhớ lại. Tóm lại, phải hiểu có ký ức tham dự. Nói một cách khác, ký ức cư trú trong não bộ theo sinh học phổ thông.

Trong kỹ thuật thiền định của tài liệu này, rất nhiều kỹ thuật được dùng, nhằm áp đảo ký ức, làm ký ức sụp đổ, ít nhiều tạo hiệu ứng domino lôi kéo ý thức sụp đổ.

Xin mô tả khá chi tiết, các diễn biến tâm lý, trong sân khấu ý thức, khi sử dụng kỹ thuật nhập định của tài liệu này.

- Phải có đam mê, tôi yêu thích vì có lợi cho tôi, tôi nỗ lực (tức là ý chí) chú ý có chủ đích vào đối tượng, là hình ảnh các con số bất kỳ chẳng hạn, thí dụ: 58, 74, 63 vv… Tôi cố nhìn và đọc để ghi nhớ các con số xuôi và ngược, thí dụ: 58 -> 74 -> 63 -> 89… ngược : 58 <- 74 <- 63 <- 89. Tôi biết và hiểu rõ những thông tin nêu sau:

- Căn cứ vào hằng số cơ bản của tài liệu này. Căn cứ vào thực tế của hầu hết mọi người. Căn cứ vào định luật tâm lý học (oubli progressif) quên tiến hóa. Căn cứ vào nhớ ngắn hạn của George Armita Miller. Bây giờ, tôi nhắm mắt lại để thực hiện.

- Thực tế sẽ như thế này với nghị lực và ý chí cao nhất, tôi hình dung lần lượt 58 – 74 – 6… rồi 63 đến đây tôi không làm sao hình  dung tiếp được nữa… tôi cố gắng, cố gắng… đột nhiên tôi mất ý thức, sau đó … mất hoàn toàn ý thức. Việc đột nhiên mất đi ý thức này tùy theo cơ địa của từng cá nhân, có người ít con số hơn, cụ thể: 58, 74, 63, 8… có người nhiều hơn, thí dụ: 58, 74, 63, 89… cố lắm 89, rồi 3…thực tế ít ai làm được việc này, vì nó mâu thuẫn với vô số định luật tâm lý.

- Quí đọc giả nếu có điều kiện cho phép, có thể thử nghiệm ngay lúc này.

- Hiện tượng mất ý thức khá đơn giản này, có thể đưa đến nhập định. Sự thật đó là sự vận dụng hằng số 7 của tài liệu này, có nhiều hằng số 7 chứ không phải là chỉ có một hằng số 7.

Ký ức có rất nhiều yếu tố, tâm lý học cho biết, xin nhắc lại, nhớ vì: mạnh, lạ, có lợi, vì thích, nhớ của các giác quan, nhớ có giới hạn, nhớ cái gần, quên cái xa do thời gian, không qian… rất nên ghi nhớ khi sử dụng ký ức như một công cụ để làm cho ý thức sụp đổ. Thí dụ “xa mặt cách lòng” “le temps passe l’ amitié s’ efface”

Đây chính là định luật “quên tiến hóa”. Nó được áp dụng triệt để, trong kỹ thuật nhập định, ở các mô hình đã nêu ra trong các bài viết trước. Việc cố nhớ lại các con số trước, làm kiệt quệ năng lượng của nghị lực, chú ý, hình ảnh và ký ức. Nó mâu thuẫn với hằng số 7 của tài liệu này.

Một vấn đề khác về ký ức, có liên quan đến bộ môn thiền định. Có thể hỏi: ký ức nằm ở đâu? Tất nhiên là ở não bộ, đó có lẽ là một câu hỏi ngớ ngẩn. Với kỷ nguyên 4.0 chúng ta có rất nhiều thông  tin đa ngành: sinh học, tâm lý, vật lý , vv… trái chiều với kiến thức truyền thống. Theo tác giả IAN STEVENSON dấu hiệu sinh học ở kiếp này, nói lên hiện tượng di trú từ kiếp trước. Người biên soạn tài liệu này cũng có một kinh nghiệm như sau: từng gặp một người phụ nữ, kiếp trước cô là một người lính nhảy dù, chết vì bị đạn bắn vào thái dương, cô để tóc dài nên không nhìn thấy, lúc kéo tóc ra thì quả nhiên thấy một cái thẹo khá lớn bẩm sinh, ở đúng thái dương.

Ký ức tinh thần và vật chất, có lẽ cư trú ở một dạng nào đó chưa xác định được. Não bộ có thể chỉ là phần cứng, một bộ phận trung gian của nhiều hiện tượng tâm lý.

- Tài liệu này có vẻ như muốn phục hưng tâm lý học cổ điển thì phải?, đi ngược dòng tiến hóa của bộ môn tâm lý học, với nhiều trường phái được coi là hiện đại. Thật ra, đây chính là sự thể hiện thực sự ít nhiều của thời đại công nghệ 4.0. Nhờ vào thông tin: vật lý, sinh học… tái sinh (REIN CARNATION) đa nhân cách (DISSOCIATIVE  IDENTITY DISORDER) cận tử (NEAR DEATH EXPERIENCE). Trạng thái nhập định và hệ quả của trạng thái này. Những hiện tượng này làm khoa học lúng túng. Sự thật là không có công cụ để khảo cứu. Tư duy bảo thủ lệch pha, cuối cùng là thả nổi.

Có lẽ đã đến lúc khoa học nói chung, tâm lý học nói riêng, nên tự đổi mới, để phù hợp với cái Đạo và Đức của Lão Tử.

Đạo là thực thể siêu nhiên tuyệt đối, Đức là biểu hiện. Làm sao để thực hiện? trở về đời sống tâm linh và nội quan (thánh nhân sử vô vi tri sự, hành bất ngôn tri giáo)

Ai đã từng trải qua BRAIN  WASHING BROCEDURE  về lâu dài cho biết không thành công. Ngược lại, sanh ra phản tác dụng.

 

Bảng tóm lược cho dễ  nhớ

  1. Số lượng yếu tố tâm lý cơ bản tham dự vào kỹ thuật để nhập định: 7 yếu tố tâm lý

Đam mê

Ý chí

Chú ý

Ký ức

Hình ảnh

Suy luận

Xét đoán

Nhóm tâm lý này thực tế chia làm 2:

a– Phần chánh, phần nổi, trực tiếp: chú ý, ký ức, hình ảnh. Lúc chúng ta thực hiện những  thao tác tâm lý thì 3 yếu tố kể trên nổi trội hơn các yếu tố tâm lý khác. Hiện tượng này hơi giống tâm Vương của Vi Diệu Pháp.

b- Những  yếu tố tâm lý còn lại ít trực tiếp, nổi trội, nhưng rất cần thiết. Còn những  yếu tố tâm tiềm ẩn khác không nêu ra. Các tâm này hơi giống tâm Sở của Vi Diệu Pháp.

  1. Số lượng thời gian: 7 phút
  2. Số lượng đối tượng của 3 yếu tố tâm kể sau:

Chú ý:  phải có 7 yếu tố

Ký ức:  phải có 7 yếu tố

Hình ảnh: phải có 7 hình ảnh

Nếu thực hành nghiêm chỉnh 3 phần nói trên cùng lúc, nhiều khả năng đạt được trạng thái định tâm một cách cơ học, tự động… Nói theo tâm lý học, một khi bước qua được ngưỡng cửa này mọi việc sẽ khác. Tùy thuộc ở cá nhân muốn dùng  trạng thái này vào việc gì. Mặt khác, nếu đạt được trạng thái định tâm, thì mục đích của tài liệu này đã thành hiện thực.

Trạng thái định tâm lại là một vấn đề mới và khác.

Nếu có điều kiện, rất hân hạnh được giao lưu cùng quí đọc giả với chủ đề: “Vấn đề trạng thái định tâm”.

THỰC HIỆN MÔ HÌNH NÀY, CHO THẤY RÕ TÍNH CHẤT HIỆU QUẢ

CỦA HẰNG SỐ 7 TRONG THỰC TẾ ĐỊNH TÂM


 

KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG TIỆN

– La fin justifie les moyens.

- The ends justify the means

 


Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 8/10/2020