Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định ( thực hành2)

                                                            GIẢ THUYẾT CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH

                                      Thao tác vật lý và tâm lý có khả năng dẫn đến nhập định

 

Những hiện tượng có thể quan sát ở cuộc sống đời thường.

Thao tác này dựa trên những kinh nghiệm thực tế đời thường, mà hầu hết ai cũng có kinh nghiệm bản thân. Thông thường ai cũng phải ngủ, ngủ được nhìn ở góc cạnh thiền định là nhập định thụ động, cơ thể vật lý mỏi mệt, lệch lạc, không còn tương thích, phù hợp với cơ thể tâm lý. Do đó,  cơ thể tâm lý tạm thời tách ra, đợi đến khi cơ thể vật lý phục hồi tình trạng nguyên trạng sẽ kết hợp lại. Trường hợp điển hình khác, nhiều nghi phạm khi nghe tuyên án tử hình thì ngất xỉu, mất ý thức, đây là nhập định thụ động, cơ thể tinh thần, tâm lý trong lúc này bị vượt quá tải, quá giới hạn dung lượng, không còn phù hợp với cơ thể vật lý.

Thao tác mà chúng ta sắp đề cập đến, cũng dựa trên tính chất cơ học về tâm lý, vật lý nói trên, chỉ khác là ở trạng  thái chủ động, do chính mình chủ động tạo ra trạng thái được gọi là định tâm. Tiến trình tâm lý, sinh lý này mang tính chất tự động, cơ học, không có gì là thần bí, có thể giải thích và hiểu được.

 

                                                                             Phần thực hành

                                                                               Thao tác vật lý

Điều thân:

Thực tế là chăm sóc cơ thể vật lý, tập thể dục, còn hơn nữa là thể thao, việc này có lợi cho cơ thể vật lý, dù bất cứ ở tuổi nào ngày hôm nay ai cũng biết.

Cơ địa – hay duy tâm một chút – nghiệp lực mỗi người khác nhau, nên chọn vị thế phù hợp với mình, tránh các vị thế kiểu cọ, không thực tế làm trở ngại cho việc nhập định. Vị thế nào mà chúng ta có thể ngủ được là vị thế tốt. Theo như truyền thuyết, thì những nhân vật điển hình trong bộ môn này, khi thiền định lâu dài, đều nằm thì phải, thí dụ: MILAREPA, LOBSANG RAMPA, SAKYA MUNI ,…ngồi kiết già, bán già… Sự thật chỉ có trong phim ảnh, trong tiểu thuyết giả tưởng, nhập định được sẽ đổ gục, nhiều công cuộc khảo sát đã được ghi nhận bằng hình ảnh. Chỉ vì hình thức, mà chọn một vị thế không phù hợp với cơ thể học, sinh lý học… có hại lâu dài cho sức khỏe, nhất là đối với quý vị đọc giả nhiều tuổi, xin cẩn trọng chọn vị thế thiền định. Nói tóm lại, tìm mọi cách làm cho cơ thể vật lý thư giãn, dễ chịu nhất có thể, không gây trở ngại cho việc thiền định, có thể kéo dài nhiều giờ.

Trước khi thiền định nên tập thể dục nhiều nhất có thể, tùy theo cơ địa của từng quý vị. Quý vị tự so sánh một buổi thiền định có tập thể dục và không tập thể dục sẽ nhận được sự khác  biệt, tài liệu cổ điển có nói tới việc đi bộ gọi là kinh hành.

Địa điểm:

Ở đâu cũng được, ở chỗ nào đó mà chỉ có một mình mình, không có những yếu tố làm phân tán tư tưởng, cố tránh tiếng nói, tiếng hát và tivi… Chúng ta phải đoan chắc là không có ai  ra vô trong lúc chúng ta đang thực hành thiền định, đoan chắc điện thoại đã được tắt. Sau khi kiểm tra, chúng ta yên tâm là thời gian này, không gian này thuộc về mình, tâm lý phân vân, lo âu… là trở ngại lớn.

Địa điểm cần ngăn nắp, sạch sẽ, không có mùi khó chịu, nếu có thể nên tạo mùi thơm tùy theo khả năng của mình.

Có những vấn đề chúng ta chưa biết, không có nghĩa là không hiện hữu. Những thực thể chưa xác định được, trợ giúp chúng ta, họ ưa thích mùi thơm. Ngược lại, những thực thể tiêu cực chưa xác định được, có mùi như xác sinh vật đang phân hủy. Thực tế, nếu quý độc giả  thành công, sẽ tự có kinh nghiệm vừa kể trên. Có thể vì lý do này, mà các nơi thờ phụng của các tôn giáo, hay trang bị các loại hoa, nhang, trầm để tạo mùi tích cực, mời các thực thể tích cực và tạo trở ngại cho thành phần thực thể tiêu cực.

Ai cũng có chỗ tối thiểu để ngủ, nơi này chắc chắn là riêng tư, đây là địa điểm có sẵn thực tế, thiền định tại đây rất tiện lợi, không phiền ai trong gia đình. Với thiền định, các yếu tố vật chất chỉ là thứ yếu, thực tế nó thuộc về cảnh sắc dục giới, nó chỉ là yếu tố cần chứ không phải là đủ, nó phụ trợ lúc chưa nhập định và cả nhập định, lúc chúng ta còn sinh hoạt ở cảnh giới này. Do đó, có lẽ không nên chú trọng quá đến yếu tố này, vì thiền định là những thao tác kỹ thuật về các yếu tố tâm lý, để tạo ra một trạng thái tâm lý mà mình mong muốn, có lẽ không nên lẫn lộn mục đích là một trạng thái tâm lý nào đó: sơ thiền, nhị thiền vv… Với các yếu tố vật chất là phương tiện.

 

Nhắm mắt

Thông thường gọi là đóng các giác quan lại theo lý thuyết kinh điển, ít nhất là các giác quan vật chất tương đối dễ. Ý thức thì không đơn giản, phải có thuốc đặc trị. Nhắm mắt lại nhẹ nhàng, người ta thường khuyên khi thiền định vẫn còn hé mắt ( The eyes half closed – Garder les yeux mi – clos). Thực tế mắt sẽ khô rất khó chịu, không tránh được việc tiếp nhận cảm giác thị giác. Việc quán tưởng sẽ khó thực hiện được, vì đơn giản nó mâu thuẫn với các định luật của tâm lý học, các cảm giác xua đuổi hình ảnh. Xin nhắc lại, hình ảnh là phó sản của cảm giác. Thực tế cho thấy, không biết dựa trên cơ sở nào mà người ta lại khuyến khích chúng ta hé mắt khi thiền định?, thiền định đòi hỏi việc tập trung cao độ. Chúng ta hãy quan sát, các ca sĩ, nhạc công, họ hay nhắm mắt ít nhiều khi tập trung để hát hay tấu nhạc. Vậy, mở mắt ít nhiều, tất nhiên phải nhìn thấy cái gì đó thì trở ngại cho việc tập trung.

 

Thao tác tinh thần hay tâm lý.

Đây là một thao tác không giống với bất cứ thao tác nào mà chúng ta đã từng được học tập ở tất cả các bộ môn, kể cả những bộ môn trừu tượng như: triết học, vật lý  lý thuyết vv… Xin cụ thể hóa các nguyên tố tâm lý để chúng ta dễ hình dung.

Dù là ở dạng ẩn thể (elliptique) hay có chủ từ rõ ràng – nói theo ngôn từ văn phạm – chúng ta phải chấp nhận có một cái tôi trong thao tác tâm lý để nhập định và kể cả trong trạng thái nhập định ở các dạng khác. Các trạng thái định tâm, cho dù là trạng thái định tâm tế nhị khó hiểu nhất, thí dụ: trạng thái tư tưởng, không có tư tưởng, không có cả định tâm cũng chỉ là những trạng thái tâm lý. Vậy phải có ai đó cảm nhận trạng thái này, thì trạng thái này mới được mô tả, là trạng thái tâm lý thì tất nhiên phải thuộc về một chủ thể tâm lý nào đó. Xin nhắc lại, đây là một nguyên lý khá phổ thông của triết học, đó là nguyên lý bản thể có thể minh họa thế này, nếu có trạng thái tâm lý là một tùy thể, thì tất nhiên phải có một cái tôi, cái ngã là bản thể, tùy thể và bản thể có mối quan hệ không thể tách rời nhau ra được, bình dân người ta bảo “không lửa sao có khói”, người ta cho là định luật này mang tính chất hiển nhiên. Có tính chất nội tại và phổ quát ở tâm lý con người.

Có thể phát biểu thế này (xin nhắc lại)

“Chủ thể tâm lý ở đâu, vào thời điểm nào, là do ý chí của mình” (chủ thể tâm lý là cơ thể tâm lý, cơ thể tinh thần)

Trong thao tác để nhập định, cũng như ở trạng thái nhập định, nếu chúng ta ghi nhớ được phát biểu này, sẽ giúp ích rất thiết thực sau này, khi chúng ta muốn chuyển đổi các lớp thiền. Bỏ qua các chi tiết về tâm lý, kỹ thuật, định luật đồng bộ. Xin vui lòng ghi nhớ,  “Tôi” ở đâu, vào lúc nào là do ý chí mình muốn “ cơ thể tâm lý mềm dẻo (plastic) linh hoạt (flexible). Tuy nhiên cần phải có một mục đích rõ ràng và ý chí mạnh mẽ khi mình muốn ở đâu, vào lúc nào. Điều này ở phần nhập định coi như là ý chí, quyết tâm cao.

Sau đây chỉ là những yếu tố tâm lý chính, tham dự trực tiếp vào tiến trình nhập định được mô tả khá rõ ràng, kỹ lưỡng. Để hiểu rõ về vai trò của chức năng, mục đích, có đối chiếu và so sánh với lý thuyết cổ điển để tìm hiểu những điểm tích cực, tiêu cực, lựa chọn cái gì còn dùng được.

Chú tâm, chú ý hay tập trung ( attention, concentration)

Tại sao lại phải làm công việc chú ý, tập trung?

Tâm lý học cũng như lý thuyết thiền định cổ điển, đều mô tả tâm lý con người, trôi đi như một dòng nước liên tục, để hình dung, có triết gia nói như thế này “Tâm lý con người chỉ có dấu phẩy, không có dấu chấm”

Mô tả này cho thấy rõ ràng tâm lý mang tính chất không gian một chiều có lẽ không phù hợp với thực tế. Về cơ bản, tâm lý học cho biết, hiện tượng tâm lý không thể định vị được, có nghĩa là nó không có chiều không gian nào cả. Có lẽ các nguyên tố tâm lý giống như những đám mây chuyển động hỗn loạn, tương tác với một bản thể là chủ thể tâm lý, lực tương tác là một lực chưa xác định được, lực tương tác giữa các nguyên tố tâm lý và chủ thể tâm lý có thể coi như một bức tường vô hình thế năng rất cao, nó ngăn chặn không cho các nguyên tố tâm lý thoát ra ngoài cơ thể cái tôi. Ở cuộc sống đời thường, chúng ta luôn bị hiện tượng “ hồi cố phản ý” liên tục xuất hiện, hết đợt này đến đợt khác không ngừng nghỉ. Dân gian gọi là “tâm viên ý mã” do đó “nói ở đầu môi, quên chót môi”.

Thiền định muốn hiện tượng tâm lý lộn xộn dừng lại, tạo ra một hiện tượng tâm lý nhân tạo, ngược lại với tâm lý vốn có của con người. Tóm lại, cần phải có một kỹ thuật nào đó, để giữ cái tâm nó lại. Muốn vậy hãy chú ý vào một cái gì đó. Thực tế, việc này không thể duy trì được lâu, chỉ tạm thời một lúc. Do đó, muốn chú ý lâu dài, đòi hỏi phải có sự hiểu biết và kỹ thuật thích hợp. Do nhu cầu này nên nảy sinh ra kỹ thuật. Khi tìm hiểu, có rất nhiều vấn đề kỹ thuật về tâm lý được đặt ra. Chú ý để làm gì? chú ý chỗ nào ở cơ thể vật lý, làm sao tạo được sự chú ý? Làm sao kéo dài được sự chú ý? Chú ý vào cái gì? Thời gian cần thiết là bao lâu?...

Trong thiền định chú ý để làm gì?

Nhà thơ Pháp từng nói “khi thiếu vắng người yêu, thế giới này như hoang vắng” (un seul être vous manqué, tout est depenplé)

Chú ý có tính cách chế ngự, đàn áp những yếu tố tâm lý khác, như vậy nó làm ý thức trở nên lu mờ, thậm chí là triệt tiêu. Đó chính là sự đáp ứng yêu cầu cơ bản của thiền định, muốn tạm  thời chấm dứt ý thức đời thường, vì nó là bức tường vô hình ngăn cách giữa cái tôi và sự thật. Với bộ môn thiền định và thực tế, khi người ta ở trạng thái nhập định, ý thức đời thường lại là bức tường ngăn cách chúng ta với sự thật. Nghe có vẻ vô lý nhưng có thật.

Chú ý ở đâu với cơ thể vật lý?

 

°Chúng ta tưởng tượng nhìn xuyên qua một lỗ nhỏ ở giữa hai chân mày, nơi này gọi là huyệt ấn đường, còn gọi là luân xa AJINA vô cùng phổ thông của trường phái Hỏa Xà  Kundalini

° Khi thực hành đúng vị trí, chúng ta cảm nhận tại nơi này hơi châm châm, nặng nặng, tê tê dễ chịu, sau một thời gian nào đó.

° Luân xa này là nền móng, để mở được con mắt thứ ba sau này. Trong bộ môn thiền định, việc này là hệ quả tất yếu nếu thực sự nhập được định, không cần phải “xin, cho” ai cả…

°Tại sao lại dùng vị trí này trên cơ thể vật lý để tập trung tư tưởng? địa điểm này được quy ước từ thuở xưa và trên thực tế. Ngày hôm nay theo sinh học, thì người ta cho là địa điểm này gần với một tuyến yên nội tiết (L’ HYPOPHYSE) ở não bộ. Thực tế, thiền định cho người ta thấy địa điểm này là đúng, nếu không sử dụng địa điểm này, sau này sẽ sanh ra những hậu quả không mong muốn. Huyệt đạo, luân xa là đứa con ngoài giá thú của khoa học hiện  đại, một dạng giả dược (PLACEBO – EFFECT) hiệu ứng là do tâm lý, là ảo

Thao tác về tiến trình tâm lý được trình bày lần lượt, thứ tự như sau

(Xin quý giả thông cảm những từ ngữ chuyên ngành được sử dụng, vì nó mô tả rất chính xác các sự việc trừu tượng)

Với ý thức tâm lý, có khả năng nhị trùng (facutle de  dedoublement) tự gấp lên chính mình. Tôi tạm thời là bản thể tâm lý, tìm kiếm trong kho ký ức ở khu vực tiềm thức, hình ảnh và ý nghĩa của các con số bất kỳ, tôi đưa nó lên khu vực ý thức. Với tưởng tượng, tôi hình dung trước luân xa AJINA có một khuôn hình vuông hoặc tròn… với kích cỡ rõ ràng, cố định, thí dụ: 10, 20cm mỗi cạnh, có nền màu trắng chẳng hạn.

Với cơ thể tinh thần hay tâm lý, tôi tưởng tượng là nhìn qua luân xa AJINA thấy khuôn hình nói trên một cách rõ ràng và liên tục. Xin quý vị lưu ý, tất cả những hình ảnh do tưởng tượng mà có trong thế giới tinh thần, chúng ta phải nhìn bằng tư tưởng rõ ràng và liên tục, tuyệt đối không để bị đứt quản. Việc này rất khó thực hiện nhưng phải cố gắng hết sức lực vật lý và tâm lý của mình.

Với ý chí (volonté) và chú ý (attention) tôi tưởng tượng để tạo tác ra các hình ảnh (image), các hình ảnh này đã được lấy ra từ ký ức, như đã nói ở trên. Những thao tác tâm lý này, quý vị phải cụ thể hóa tôi đi tìm hình ảnh, hình thể các con số, chọn lựa sau đó quyết định hình ảnh, kích cỡ, màu sắc… Chúng ta biến mình thành diễn viên thực sự trong kịch bản đi tìm đối tượng là các con số bất kì, dùng làm đối tượng để cột, trói tâm lý mình lại. Chúng ta phải hết sức tưởng tượng như đang đi vào một siêu thị ký ức, lục lọi, tìm kiếm… việc này không phải vô ích, chính là cách tập thể dục cụ thể của cơ thể tâm lý, tinh thần. Cái tôi làm chủ cơ thể tâm lý, vật lý. Thông thường cơ thể tâm lý, vật lý làm chủ cái tôi, chúng ta lẫn lộn cơ thể cái tôi và cơ thể tâm lý, vật lý. Ở trạng thái này, chúng ta bị cơ thể tâm lý, vật lý cho thấy biết, những đối tượng ở trong và ngoài, mang tính chất vô thường (UMPERMANENT), vì công cụ là vô thường nên tương thích với đối tượng tất nhiên là vô thường. Lý thuyết cổ điển gọi tắt là “vọng tâm”.

Với khuôn hình tưởng tượng ở trước mặt là một tờ cạc tông có nền trắng hoặc một màn hình, tôi hình dung ra hai con số bất kỳ, thí dụ: 58, 76 vv… con số phải có kích cỡ, màu sắc rõ ràng tùy theo mình chọn lựa. Xin nhấn mạnh, phải liên tục nhìn thấy con số mà mình đã tạo ra, tuyệt đối không được thay đổi kích cỡ hay màu sắc, phải cương quyết, nghiêm khắc với chính mình, dễ dãi qua loa sẽ thất bại. Xin lưu ý, con người vốn tự ti, yếu đuối, nhu nhược, vị kỷ.

Tại sao lại làm việc này? Có nghĩa là không thay đổi nền, kích cỡ, màu sắc của hai con số nói trên

Việc này có hai lý do:

Thực tế cũng như theo tâm lý học, hình ảnh mà chúng ta có được trong tưởng tượng rất khó duy trì. Như chúng ta đã biết, hình ảnh là phó sản, dư thừa, cặn bã của cảm giác. Hình ảnh rất dễ bị các cảm giác mới đuổi đi khỏi sân khấu ý thức. Việc duy trì hình ảnh trong tâm lý rất tốn năng lượng, vì nó phải liên tục cạnh tranh với hiện tượng hồi cố phản ý (Rappel malgré nous) vốn có ở bất cứ ai, đây là một kẻ thù đáng gờm của bộ môn thiền định.

Ý chí chú ý vào hình ảnh của các con  số một cách mạnh mẽ và liên tục trong thời gian khoảng 7 phút là một cái áp lực cho não bộ vật lý và cơ thể tâm lý. Nếu vượt qua một giới hạn nào đó của định luật giới hạn tâm lý, tùy vào cơ địa của từng cá nhân, ý thức có thể bị sụp đổ, đưa đến trạng thái định tâm. Nói một cách khác, người ta đạt được mục đích của nhập định là tạo được trạng thái định tâm, các công cụ tạo ra vọng  tưởng, hướng ngoại đã bị triệt tiêu, do kỹ thuật tạo trạng thái quá tải về tâm lý phát xuất từ trí tuệ của con người. Một cách giải thích thứ hai nữa, mà tự mình có thể kiểm tra trên thực tế về hiện tượng quá tải của ý thức đưa đến định tâm. Hệ quả này là hệ quả của việc ứng dụng, sử dụng cố ý một số định luật tâm lý cổ điển về nhớ là: “quên tiến hóa” (oubli progressif), “đơn vị nhớ tăng theo cấp số cộng, thời gian tăng theo cấp số nhân”, “khả năng nhớ (tâm lý học còn gọi là kí ức, hồi cố) tồn tại ở khu vực ý thức có giới hạn”.

Để minh họa cái gì trừu tượng, khoa học vận dụng phương pháp mô hình hóa.

  • Quên tiến hóa, thí dụ:

X M D F E S W U …

Cố ghi nhớ hàng chữ trên đọc từ trái qua phải, ta nhớ U W S và quên các chữ đầu, có nghĩa là nhớ cái mới, quên cái cũ.

  • Đơn vị nhớ tăng theo cấp số cộng, thời gian tăng theo cấp số nhân, thí dụ:

 X M D =  5 giây               X M D – F E S – W U R =  vượt qua trên 15 giây

  • Ký ức không phải là vô tận, thí dụ: trung bình nhớ từ 5 đến 9 chữ

X M D F E S W O R L N T M U vv…

Mô hình này có thể làm đối tượng để thiền định sau này rất hiệu quả trên thực tế.

Căn cứ trên việc quan sát những hiện tượng trong cuộc sống đời thường, chứ không phải trên lý thuyết, sách vở. Do đó, giả thuyết mang tính chất khả dụng, khả thi ở trong tầm tay của hầu hết mọi người bình thường.

Vẫn trên khuôn hình nói trên, ở trước luân xa AJINA có sẵn 2 con số. Chúng ta tiếp tục hình dung thêm 2 con số nữa, thí dụ lúc trước là

6 5

nay thêm 2 con số nữa bằng hình ảnh cùng kích cỡ, màu sắc

6  5   7 8

Chúng ta nhìn thấy cả 4 con số bằng tưởng tượng, đọc xuôi và ngược một cách rõ ràng bằng hình ảnh, chứ không phải bằng khái niệm mơ hồ (vague notion) về con số, xin ghi nhớ điều này. Hình ảnh của nó là cái cầu, là cái gạch nối với thế giới, cảnh giới gọi là hữu sắc, vấn đề này rất dài dòng nằm ngoài nội dung của tài liệu này.

Tại sao lại làm việc này?

Để đối phó với định luật thích nghi về vật lý cũng như tâm lý vốn có bẩm sinh của con người. Xin nhắc lại những định luật nói trên với một mô hình là những con số, với rất nhiều chi tiết rất đáng quan tâm. Với cơ sở này, quý độc giả có thể tự sáng tác ra các mô hình mình thấy phù hợp, hiệu quả hơn. Chính vì lý do này, quý độc giả nên ghi nhớ khá nhiều định luật kinh điển của tâm lý học mà quý độc giả đã quên vì cuộc sống bận rộn.                                      

Ngoài vấn đề hình ảnh như đã nói ở trên là một áp lực cho ý thức. Nay chúng ta lại thêm áp lực mới nữa cho ý thức. Vận dụng định luật quên tiến hóa (oubli progressif). Mặt khác, số lượng con số tăng lên từ 2 con số lên 4 con số, đòi hỏi thời gian để ghi nhớ. Việc này tạo cho sự chú ý tính chất liên tục, đó là chú ý đợi chờ và hồi cố (attention expectante, attention reflechie) có nghĩa là chú ý để chờ đợi một kết quả mong đợi và chú ý để cố gắng nhớ lại.

Tất cả những tháo tác tâm lý này, nhằm làm suy yếu ý thức vốn có, đến một lúc nào đó vượt qua định luật giới hạn tâm lý, ý thức sẽ bị xóa bỏ, một trạng thái tâm lý mới xuất hiện, có thể đó là sơ thiền hữu sắc, một trạng thái tâm lý mong  đợi.

Trước khi tiếp tục triển khai những kỹ thuật tâm lý để tạo ra trạng thái tâm lý nhập định, chúng ta cần phải hiểu tại sao ở kỹ thuật này, luôn luôn nhấn mạnh đến hình ảnh và địa điểm là luân xa AJINA.

 

Hình ảnh (image)

Căn cứ theo thực tế cũng như tâm lý học, dư ảnh của các cảm giác, của các giác quan đều được coi là hình ảnh. Chúng ta có thể nhớ như đang nghe một bài hát yêu thích, nhớ rõ ràng đến vị giác của một món ăn đã từng ăn vv… Thực tế cũng như bộ môn thiền định, các hình thể (FORM) bất cứ ở dạng nào đều được gọi là cảnh giới hữu sắc. Ở đây, tài liệu này không thể đi vào chi tiết, có thể hiểu sơ lược qua như sau, cảnh hữu sắc chia ra làm 2, gồm: hữu sắc dục giới và hữu sắc thiền định. Kiến thức này hoàn toàn không có khái niệm tương đương với khoa học hiện đại, thậm chí cả từ ngữ cảnh giới khác với chiều không gian, hệ  quy chiếu vv… Chỉ có thực chứng thiền định mới hiểu nó là gì, đây là một khái niệm chỉ bộ môn thiền định mới có. Tạm thời có thể hiểu cơ bản sơ lược như sau: dù ở thế giới vật chất hay tinh thần, bất cứ cái gì có hình thể (FORM) đó là thế giới của cảnh hữu sắc.

Sở dĩ chúng ta phải đặc biệt chú ý đến kích cỡ, màu sắc của các con số, vì đây là trạng thái của hình thể, dù vật chất hay tâm lý, thiền định gọi là sắc giới, hình thể hiện hữu ở thế giới vật chất hay tinh thần, tâm lý, chỉ khác nhau về các yếu tố số lượng sắc tham dự nhiều hay ít, nhưng cuối cùng vẫn là sắc.

Theo kỹ thuật thiền định bài bản, thao tác chú tâm vào  hình thể của các con số, mục đích là để đáp ứng định luật đồng bộ, để đi vào thiền hữu sắc. Kỹ thuật này giúp chúng ta đi vào trạng thái thiền định dễ nhất, đơn sơ nhất, nền móng nhất, vì đây là những cảnh giới khá gần với đời sống của con người nên dễ thực hiện. Theo lý thuyết cổ điển, cảnh giới này có thể là những cảnh không có hạnh phúc, cảnh cõi thiên, chứ không phải là sơ thiền hữu sắc.

Tóm lại, chú tâm mạnh mẽ, liên tục vào hình ảnh của các giác quan, có nhiều khả năng đi vào được cảnh sơ thiền hữu sắc. Xin độc giả lưu tâm, thiền định không chắc gì đã đến được cảnh sơ thiền hữu sắc.

Sau đây chúng ta tiếp tục thực hiện các thao tác kỹ thuật tâm lý để nhập định.

Xin nhắc lại chúng ta đã ghi nhận đến 4 con số:

                        6  5  7   8

Số lượng 4 con số để ghi nhớ nếu chưa đủ dung lượng để làm sụp đổ ý thức. Vậy phải bao nhiêu con số mới là đủ? Thử tìm hiểu về giới hạn của trí nhớ ngắn hạn và con số 7.

Trí nhớ ngắn hạn và con số 7

Theo trường phái tâm lý học nhận thức ( COGNITIVE) con số dao động từ 5 số đến 9 số, tùy theo cá nhân. Chuyên gia trường phái nhận thức GEORGE ARMITA MILLER đưa con số + -7, gọi là con số huyền bí ( the magical number seven, pluc or minus two) đó là giới hạn dung lượng của thông tin đối với trí nhớ ngắn hạn. Đối với khoa học thì con số là con số. Tuy nhiên, thế giới tự nhiên và một số bộ môn cổ điển lại cho là có cái gì đó ngẫu nhiên: 7 màu, 7 âm thanh, 7 ngày, 7 biến, thất ngôn tứ tuyệt, Bardo trung ấm thân của Tây Tạng.

Con số này có vẻ huyền bí thật, nếu muốn vượt dung lượng thông tin của trí nhớ ngắn hạn, chúng ta phải tiếp tục đưa thêm thông tin như sau:

Con số đã có     6  5  7  8

Con số mới thêm      9   4

Xin nhắc lại, phải ghi nhớ toàn bộ con số trên bằng hình ảnh, đọc theo hàng học, đọc xuôi, đọc ngược … nếu việc đọc hình ảnh bằng tư tưởng khó khăn, sau đó, càng khó khăn hơn… cuối cùng không đọc được nữa. Đó là lúc ý thức đã vượt quá dung lượng, quá mức chịu tải. Sau đó là trạng thái tâm lý gọi là nhập định. Có nghĩa là các nguyên tố tâm lý, được coi là các công cụ  để giao tiếp với thế giới khách quan và chủ quan không còn tồn tại. Lâu nay khả năng hướng ngoại của ý thức được gọi là  “vọng tâm”, làm chúng ta lẫn lộn giữa chủ thể tâm lý (sujet psychologique) và cái tôi ( le moi), với kỹ thuật nói trên, cơ thể tâm lý đã bị tách rời một phần nào cái tôi, chân ngã xuất hiện một phần nào, vì đây chỉ mới là trạng thái nhập định. Trạng thái tâm lý còn quá thô thiển, yếu ớt.

Tùy theo từng cá nhân, tùy theo lúc, tùy theo tâm trạng thực tế, nếu tiến trình các thao tác kỹ thuật tâm lý nói trên, vẫn chưa đủ dung lượng để đàn áp ý thức, thì chúng ta phải tăng thêm liều lượng như giải pháp tình thế, cụ thể là thêm các con số. Tuy nhiên, muốn giải quyết dứt điểm cần phải tìm hiểu về bản chất vấn đề.

 

Thiền định phải chiến đấu với những kẻ nội thù.

Một cá nhân không thể có khả năng, để làm một thống kê về một hiện tượng xã hội nào đó mang tính chất khoa học, cụ thể là hiện tượng nhập định có hay không? Kể cả máy phát hiện nói dối cũng bị người ta lừa khá dễ dàng. Những gì tâm lý học kinh điển mô tả về tính chất của các yếu tố tâm lý, đến nay vẫn đúng thì phải. “Tri nhân tri diện bất tri tâm”, Sông có thể dò, lòng người (tâm lý) không thể đo lường, xác định tọa độ, vận tốc vv…

Thực tế bộ môn này có vẻ “hữu danh, vô thực”, có tiếng mà không có miếng. Nếu sự thật đúng như vậy người ta tự hỏi tại sao lại thế? Không thiếu gì tác phẩm ( dù ít nhiều là ngụy tạo) vẫn nói lên những kiến thức ngoài khả năng của con người bình thường. Thí dụ: Đạo đức kinh, chân ngôn Patanjali, Vi Diệu Pháp…, mới đây Bàn Tay Ánh Sáng, ISIS UNVEILED, vén màn ISIS            .

 

Xin phép nhắc lại, kỹ thuật kinh điển để nhập định, để thôi miên đều dựa vào cùng một công thức “fixer le regard à un point et l’ esprit sur une penseé” (nhắm mắt chú tâm vào một điểm, tư tưởng chú tâm vào một ý nghĩ) tương tự chánh định của trường phái Sakya Muni và Patanjali …

Kể cả đến thế kỷ 21 này, dường như người ta vẫn chưa tìm ra được kẻ thù của bộ môn thiền định, đơn giản vì nó chính là bạn sanh tử  với con người, thiếu nó chúng ta không thể tồn tại và phát triển, đưa đến tuyệt chủng. Khả năng thích ứng chính là kẻ nội thù. Tài liệu thưở xưa có nói “Kẻ thù lớn nhất trong đời là chính mình” không biết có phải hàm ý nói đến khả năng thích nghi?

“Biết mình biết người” rất đúng trong trường hợp này, chúng ta cần hiểu rõ Adaptation là cái gì nói chung và tâm lý học nói riêng.

Khả năng thích nghi có thể mô tả như sau:

“Một tổ chức bất kỳ, trong quá trình tiến hóa, tự biến đổi để thích nghi với môi trường mới, nhằm mục đích tồn tại và phát triển”. Thí dụ cụ thể về sinh lý: con mắt người nói riêng, phải liên tiếp điều chỉnh để phù hợp với  các yếu tố xa, sáng, tối, tuần hoàn, hô hấp vv… tự điều chỉnh tùy theo tình hình của cơ thể vật lý với các sinh hoạt khác nhau.

Với bộ môn thiền định, chúng ta đặc biệt chú ý tới góc cạnh tâm lý, thích nghi, thích ứng theo tâm lý học, đó là sự biến đổi cấu tạo tâm lý của một cá nhân để bảo trì đời sống, hòa hợp với những dữ kiện mới:

- Chiến thuật này có thể có 2 loại:

1. Hấp thụ ( Assimilation): hấp thụ tất cả những gì mới lạ để trở thành chính mình, thí dụ: tôi là y tá, tôi là kỹ sư vv…

2. Thích ứng (Accommodation): tự biến đổi để thích hợp với những dữ liệu mới. Thí dụ: thuyết tiến hóa.

Việt Nam cũng có câu nói tương tự, mô tả khả năng nói trên “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Khả năng thích nghi này (tâm lý học gọi là định luật thích nghi) như trình bày ở trên, là cần thiết để tồn tại, nó có vẻ như một phần của bản năng bảo tồn của con người. Tuy nhiên đối với bộ môn thiền định, nó lại là một vật cản. Khả năng thích nghi, nó muốn bảo trì con người luôn là con người vốn có. Thiền định lại muốn thay đổi con người thành một chủng loại khác. Cụ thể là tách con người truyền thống ra khỏi cơ thể vật lý, cơ thể tâm lý, chỉ còn lại bản ngã hay cái tôi.

Công cụ thiền định với công thức kinh điển, luôn luôn bị định luật thích nghi bẻ gãy, bằng 2 chiến thuật kể trên là hấp thụ hoặc thích nghi. Nói một cách khác, kỹ thuật thiền định cổ điển, bị định luật thích nghi, vô hiệu hóa một cách quá dễ dàng, vì nó quá đơn điệu, thô sơ.

Tuy nhiên khả năng thích nghi lại đòi hỏi thời gian nhiều hay ít, tùy theo mức độ phức tạp của các đối tượng khách quan. Thí dụ, học lái xe đạp chỉ cần thời gian ngắn vài ngày, lái máy bay tàng hình, phi thuyền không gian đòi hỏi thời gian lâu dài nhiều năm, thời gian học đại học, sau đó học chuyên ngành. Yếu tố thời gian và phức tạp của đối tượng có vẻ là chìa khóa để hạ gục định luật thích nghi. Cụ thể là, nếu chúng ta thay đổi yếu tố dữ kiện phức tạp liên tục, khả năng thích nghi sẽ bất lực, vì không đủ thời gian để thích nghi, thực nghiệm cho biết như vậy.

Tóm lại, bài toán không có lời giải trong nhiều thế kỷ, nay đã có lời giải hoàn toàn có thể hiểu được, thực hiện được. Có thể đây là một bước lớn trong bộ môn thiền định. Tâm lý học đã vén được bức màn bí mật của kỹ thuật nhập định.

Cụ thể là:

Ý thức luôn được khả năng thích nghi hỗ trợ để đưa về tình trạng nguyên trạng (STATUS QUO ANTE) vốn có, ổn định với bản chất là hỗn loạn.

Do đó, nếu đối tượng để chú ý thụ động hay chủ động là đa ý (polyideisme) liên tục thay đổi, khả năng thích nghi vượt quá năng lực của mình, bỏ rơi ý thức, ý thức sẽ sụp đổ.

 

Sử dụng vào thực tế những tấm hình sau đây.

hình 1


hình 2

hình 3

                   

hình 4

hình 5

  

 

Để đạt hiệu quả tức thời và lâu dài, xin phép nhấn mạnh, là kết quả tức thời để nhập định (chưa xác định được loại định nào) gần như bất cứ ở đâu, lúc nào. Chỉ cần có điều kiện riêng tư chút ít, thí dụ: trên máy bay, xe đò, lúc họp đông đảo… Đặc biệt là đối với quý vị đã từng thiền định lâu năm, thực sự biết rõ mình là nạn nhân của bộ môn thiền định, phân vân không biết nên tiến hay lùi. Âm thầm một mình với mặc cảm tự ti, tự trách mình theo lời thầy hướng đạo là “nghiệp dày, phước mỏng” vv…

Nếu quý vị độc giả đọc, hiểu rõ và ghi nhớ những phần gần đây nhất, thì việc sử dụng những tấm hình sau đây, có thể có hiệu quả tức thời, ai cũng có thể có hiệu quả.

Đặc biệt quý độc giả nên quan tâm tới ghi nhớ, những định luật về khả năng nhớ hay ký ức – xin phép nhắc lại – vì những tấm hình nêu sau đây là ứng dụng những gì chúng ta đã biết sơ qua: ký ức, hình ảnh, khả năng thích nghi vv…

  1. Quên cái cũ, nhớ cái mới.
  2. Số lượng tăng theo cấp số cộng, thời gian theo cấp số nhân.
  3. Ký ức ngắn hạn là + - 7

Thứ hai quý độc giả cần hiểu rõ, ghi nhớ mặt tiêu cực đối với việc nhập định của khả năng hay định luật thích nghi:

Hướng dẫn cụ thể :

  • Chọn vị thế
  • Luân xa AJINA
  • Sử dụng tấm hình, thí dụ:

Lúc đầu ghi nhớ 4 chữ

                                    E  C

                                    R  S

Nếu thấy dễ quá, tăng thêm

                                    E  C  M

                                    R  S  W

Nếu chưa đủ tăng thêm

                                    E   C  M  X

                                    R  S W  O

Nếu thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn. Không ai có thể chịu được áp lực tâm lý. Chúng ta đã vượt qua định luật + - 7

Những tấm hình khác nhằm chống định luật thích nghi. Những mô hình này là vô hạn, hoàn toàn có khả năng vĩnh viễn vô hiệu hóa khả năng thích nghi.

( còn tiếp)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 18/9/2020