Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định ( thực hành 1)

                                                                 GIẢ THUYẾT CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH

                                             Thao tác vật lý và tâm lý có khả năng dẫn đến nhập định

 

Những hiện tượng có thể quan sát ở cuộc sống đời thường.

Thao tác này dựa trên những kinh nghiệm thực tế đời thường, mà hầu hết ai cũng có kinh nghiệm bản thân. Thông thường ai cũng phải ngủ, ngủ được nhìn ở góc cạnh thiền định là nhập định thụ động, cơ thể vật lý mỏi mệt, lệch lạc, không còn tương thích, phù hợp với cơ thể tâm lý. Do đó,  cơ thể tâm lý tạm thời tách ra, đợi đến khi cơ thể vật lý phục hồi tình trạng nguyên trạng sẽ kết hợp lại. Trường hợp điển hình khác, nhiều nghi phạm khi nghe tuyên án tử hình thì ngất xỉu, mất ý thức, đây là nhập định thụ động, cơ thể tinh thần, tâm lý trong lúc này bị vượt quá tải, quá giới hạn dung lượng, không còn phù hợp với cơ thể vật lý.

Thao tác mà chúng ta sắp đề cập đến, cũng dựa trên tính chất cơ học về tâm lý, vật lý nói trên, chỉ khác là ở trạng  thái chủ động, do chính mình chủ động tạo ra trạng thái được gọi là định tâm. Tiến trình tâm lý, sinh lý này mang tính chất tự động, cơ học, không có gì là thần bí, có thể giải thích và hiểu được.

 

Phần thực hành

Thao tác vật lý

Điều thân:

Thực tế là chăm sóc cơ thể vật lý, tập thể dục, còn hơn nữa là thể thao, việc này có lợi cho cơ thể vật lý, dù bất cứ ở tuổi nào ngày hôm nay ai cũng biết.

Cơ địa – hay duy tâm một chút – nghiệp lực mỗi người khác nhau, nên chọn vị thế phù hợp với mình, tránh các vị thế kiểu cọ, không thực tế làm trở ngại cho việc nhập định. Vị thế nào mà chúng ta có thể ngủ được là vị thế tốt. Theo như truyền thuyết, thì những nhân vật điển hình trong bộ môn này, khi thiền định lâu dài, đều nằm thì phải, thí dụ: MILAREPA, LOBSANG RAMPA, SAKYA MUNI ,…ngồi kiết già, bán già… Sự thật chỉ có trong phim ảnh, trong tiểu thuyết giả tưởng, nhập định được sẽ đổ gục, nhiều công cuộc khảo sát đã được ghi nhận bằng hình ảnh. Chỉ vì hình thức, mà chọn một vị thế không phù hợp với cơ thể học, sinh lý học… có hại lâu dài cho sức khỏe, nhất là đối với quý vị đọc giả nhiều tuổi, xin cẩn trọng chọn vị thế thiền định. Nói tóm lại, tìm mọi cách làm cho cơ thể vật lý thư giãn, dễ chịu nhất có thể, không gây trở ngại cho việc thiền định, có thể kéo dài nhiều giờ.

Trước khi thiền định nên tập thể dục nhiều nhất có thể, tùy theo cơ địa của từng quý vị. Quý vị tự so sánh một buổi thiền định có tập thể dục và không tập thể dục sẽ nhận được sự khác  biệt, tài liệu cổ điển có nói tới việc đi bộ gọi là kinh hành.

Địa điểm:

Ở đâu cũng được, ở chỗ nào đó mà chỉ có một mình mình, không có những yếu tố làm phân tán tư tưởng, cố tránh tiếng nói, tiếng hát và tivi… Chúng ta phải đoan chắc là không có ai  ra vô trong lúc chúng ta đang thực hành thiền định, đoan chắc điện thoại đã được tắt. Sau khi kiểm tra, chúng ta yên tâm là thời gian này, không gian này thuộc về mình, tâm lý phân vân, lo âu… là trở ngại lớn.

Địa điểm cần ngăn nắp, sạch sẽ, không có mùi khó chịu, nếu có thể nên tạo mùi thơm tùy theo khả năng của mình.

Có những vấn đề chúng ta chưa biết, không có nghĩa là không hiện hữu. Những thực thể chưa xác định được, trợ giúp chúng ta, họ ưa thích mùi thơm. Ngược lại, những thực thể tiêu cực chưa xác định được, có mùi như xác sinh vật đang phân hủy. Thực tế, nếu quý độc giả  thành công, sẽ tự có kinh nghiệm vừa kể trên. Có thể vì lý do này, mà các nơi thờ phụng của các tôn giáo, hay trang bị các loại hoa, nhang, trầm để tạo mùi tích cực, mời các thực thể tích cực và tạo trở ngại cho thành phần thực thể tiêu cực.

Ai cũng có chỗ tối thiểu để ngủ, nơi này chắc chắn là riêng tư, đây là địa điểm có sẵn thực tế, thiền định tại đây rất tiện lợi, không phiền ai trong gia đình. Với thiền định, các yếu tố vật chất chỉ là thứ yếu, thực tế nó thuộc về cảnh sắc dục giới, nó chỉ là yếu tố cần chứ không phải là đủ, nó phụ trợ lúc chưa nhập định và cả nhập định, lúc chúng ta còn sinh hoạt ở cảnh giới này. Do đó, có lẽ không nên chú trọng quá đến yếu tố này, vì thiền định là những thao tác kỹ thuật về các yếu tố tâm lý, để tạo ra một trạng thái tâm lý mà mình mong muốn, có lẽ không nên lẫn lộn mục đích là một trạng thái tâm lý nào đó: sơ thiền, nhị thiền vv… Với các yếu tố vật chất là phương tiện.

 

Nhắm mắt

Thông thường gọi là đóng các giác quan lại theo lý thuyết kinh điển, ít nhất là các giác quan vật chất tương đối dễ. Ý thức thì không đơn giản, phải có thuốc đặc trị. Nhắm mắt lại nhẹ nhàng, người ta thường khuyên khi thiền định vẫn còn hé mắt ( The eyes half closed – Garder les yeux mi – clos). Thực tế mắt sẽ khô rất khó chịu, không tránh được việc tiếp nhận cảm giác thị giác. Việc quán tưởng sẽ khó thực hiện được, vì đơn giản nó mâu thuẫn với các định luật của tâm lý học, các cảm giác xua đuổi hình ảnh. Xin nhắc lại, hình ảnh là phó sản của cảm giác. Thực tế cho thấy, không biết dựa trên cơ sở nào mà người ta lại khuyến khích chúng ta hé mắt khi thiền định?, thiền định đòi hỏi việc tập trung cao độ. Chúng ta hãy quan sát, các ca sĩ, nhạc công, họ hay nhắm mắt ít nhiều khi tập trung để hát hay tấu nhạc. Vậy, mở mắt ít nhiều, tất nhiên phải nhìn thấy cái gì đó thì trở ngại cho việc tập trung.

 

Thao tác tinh thần hay tâm lý.

Đây là một thao tác không giống với bất cứ thao tác nào mà chúng ta đã từng được học tập ở tất cả các bộ môn, kể cả những bộ môn trừu tượng như: triết học, vật lý  lý thuyết vv… Xin cụ thể hóa các nguyên tố tâm lý để chúng ta dễ hình dung.

Dù là ở dạng ẩn thể (elliptique) hay có chủ từ rõ ràng – nói theo ngôn từ văn phạm – chúng ta phải chấp nhận có một cái tôi trong thao tác tâm lý để nhập định và kể cả trong trạng thái nhập định ở các dạng khác. Các trạng thái định tâm, cho dù là trạng thái định tâm tế nhị khó hiểu nhất, thí dụ: trạng thái tư tưởng, không có tư tưởng, không có cả định tâm cũng chỉ là những trạng thái tâm lý. Vậy phải có ai đó cảm nhận trạng thái này, thì trạng thái này mới được mô tả, là trạng thái tâm lý thì tất nhiên phải thuộc về một chủ thể tâm lý nào đó. Xin nhắc lại, đây là một nguyên lý khá phổ thông của triết học, đó là nguyên lý bản thể có thể minh họa thế này, nếu có trạng thái tâm lý là một tùy thể, thì tất nhiên phải có một cái tôi, cái ngã là bản thể, tùy thể và bản thể có mối quan hệ không thể tách rời nhau ra được, bình dân người ta bảo “không lửa sao có khói”, người ta cho là định luật này mang tính chất hiển nhiên. Có tính chất nội tại và phổ quát ở tâm lý con người.

Có thể phát biểu thế này (xin nhắc lại)

“Chủ thể tâm lý ở đâu, vào thời điểm nào, là do ý chí của mình” (chủ thể tâm lý là cơ thể tâm lý, cơ thể tinh thần)

Trong thao tác để nhập định, cũng như ở trạng thái nhập định, nếu chúng ta ghi nhớ được phát biểu này, sẽ giúp ích rất thiết thực sau này, khi chúng ta muốn chuyển đổi các lớp thiền. Bỏ qua các chi tiết về tâm lý, kỹ thuật, định luật đồng bộ. Xin vui lòng ghi nhớ,  “Tôi” ở đâu, vào lúc nào là do ý chí mình muốn “ cơ thể tâm lý mềm dẻo (plastic) linh hoạt (flexible). Tuy nhiên cần phải có một mục đích rõ ràng và ý chí mạnh mẽ khi mình muốn ở đâu, vào lúc nào. Điều này ở phần nhập định coi như là ý chí, quyết tâm cao.

Sau đây chỉ là những yếu tố tâm lý chính, tham dự trực tiếp vào tiến trình nhập định được mô tả khá rõ ràng, kỹ lưỡng. Để hiểu rõ về vai trò của chức năng, mục đích, có đối chiếu và so sánh với lý thuyết cổ điển để tìm hiểu những điểm tích cực, tiêu cực, lựa chọn cái gì còn dùng được.

( còn tiếp)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 10/9/2020