Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định (9)

                                                           CẦN PHẢI CÓ MỘT LÝ THUYẾT THIỀN ĐỊNH MỚI

                                 ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẦU BẢN NĂNG BẢO TỒN THỰC TẾ CỦA CON NGƯỜI.
                                                                                _______________________

1.ĐÁP ỨNG NHU CẦU BẢN NĂNG BẢO TỒN ( Instinct de conservation)

     - Bỏ qua tranh luận về bản năng có hay không. Giả thuyết cho là có bản năng, thì căn cứ vào cuộc sống đời thường, không phải là triết học, bản năng bảo tồn đươc hiểu cụ thể là ai cũng sợ chết, sinh vật nói chung, đều tìm mọi cách để tồn tại.

     - Ma là một hiện tượng phổ thông, bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào, nói lên bản năng bảo tồn, tồn tại sau cả cái chết của cơ thể vật lý. Nhìn ở góc cạnh thiền định về cảnh giới,chỉ cần nói và nghĩ về hình ảnh từ ngữ ma là nó đã tự tồn tại ở cảnh hữu sắc và vô sắc. Quí đọc giả thực chứng thiền định hiểu rõ điều này do kinh nghiệm.

 Tại sao nói là thiền định đáp ứng được bản năng bảo tồn?
 Xin thưa,
      - Căn cứ vào thực tế thực hành thiền định, với điều kiện là phải nhập được định và duy trì được trạng thái định ở một cấp độ nào đó. Có khả năng hai hiệu ứng sẽ tất nhiên xẩy ra. Do hệ quả của định luật không “ tương thích “, cụ thể là cơ thể vật chất và cơ thể tâm lý không còn phù hợp với nhau như lúc  sinh hoạt bình thường. Thí dụ, cơ thể vật lý là 10 yếu tố, thì cơ tâm lý cũng phải là 10 yếu tố, như vậy là hợp, tương thích với nhau.

      - Có thể tâm lý tạm thời tách ra khỏi cơ thể vật lý. Xin chú ý, cái “ tôi “ cũng đồng hành với cơ thể tâm lý. Ba nơi mà chúng ta có thể xuất hiện là: cảnh dục giới, sắc giới, vô săc giới và có thể hơn nữa, tùy tâm lý của từng người. Rất đúng khi có công thức tâm lý bảo “ cảnh do tâm biến hiện “ hoặc “ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ “ ( Kiều ).

      - Xin thứ lỗi, chỉ có vị đọc giả nào thực chứng, mới có thể hiểu phần nào điều trình bày ở trên. Thật vậy, dù chúng ta có bằng cấp khá cao, đọc rất nhiều tài liệu chuyên ngành, cũng chưa thấy ai đề cập  đến những thông tin nói trên

      - Hiệu ứng thứ hai thì dễ hiểu hơn nhiều, thường làm cho quí vị thiền định bối rối. Ngủ thường xuyên nằm mơ, những giấc mơ kỳ lạ không giải thích được, không hiểu sao mình lại như vậy. Phân tâm học thì cho đó là hiện tượng giải thoát ẩn ức rất phổ biến mà ai cũng hiểu ít nhiều.Tuy nhiên, thiền định có một cách giải thích khác.Do thiền định, tâm lý con người có sự thay đổi, nói rõ hơn, số lượng đơn vị tâm lý cấu tạo nên ý thức của chúng ta giảm thiểu đi. Thí dụ cuộc sống đời thường chúng ta có 100 yếu tố tâm lý, đơn vị tâm lý. Thường  xuyên thiền định, số lượng đơn vị tâm lý sẽ giảm đi rất nhiều, 50 chẳng hạn. Số lượng tâm lý này không tương thích với cơ thể vật lý. Do đó, lúc ngủ cái “ tôi “ và ý thức tự tách ra khỏi cơ thể vật lý. Người ta đang sống với số lượng tâm rất lớn, lại là những tâm tiêu cực nhất, họ sẽ đến những cảnh giới không thuận lợi.
      Nói tóm lại, sự thật thiền định của bản thân mình, cho biết, chúng ta không bao giờ chết. Có lẽ điều đáng quan tâm nhất, là cuộc sống kế tiếp sẽ ra sao, điều đó lệ thuộc vào cuộc sống hiện tại của chúng ta, chính chúng ta ngày hôm nay, sẽ định đoạt cuộc sống mai sau của mình Thiền định có thể là một công cụ giúp tích cực cải thiện cuộc sống mai sau.
      Nói tóm lại, thiền định đáp ứng bản năng bảo tồn.

2. Tài liệu này được hình thành chủ yếu từ thực tế, thực nghiệm, chỉ mượn tài liệu, sách vở để thuyết minh.

     Tất nhiên không có gì có thể xuất hiên từ hư vô. Ngoài khảo cứu sách vở, tài liệu, tài liệu này được xây dựng cơ bản trên thực nghiệm qua nhiều thập kỹ. Chẳng có bữa cơm nào là miễn phí cả. Theo thông tin đại chúng, có hai đại tá phi công Mỹ ROBERT, L. BEHNKEN và DOUGLAS G. HURLEY, từng bay 25 loại máy bay, có cả 1000 giờ bay, cũng phải làm việc với NASA 20 năm, trước khi điều khiển phi thuyền SPACEX.

     Tài liệu này là do con người viết ra. Sở dĩ phải nói lên điều này, vì khả năng đưa vào thực tế đời thường có lẽ dễ thành công. Có thể một số quý độc giả cũng biết và có khi đã mang ra thực hành, dựa vào hai tài liệu của hai tác giả kể sau BARBARA  ANN BRENNEN và LOBSANG RAMPA. Nhiều người đã tập nhưng không thành công. Thực tế, chẳng có kết quả gì cả, dù là ít. Xin thưa, tác phẩm của 2 vị nói trên là do hồn ma viết (Tác giả đã nói như vậy). Có lẽ ma dạy người không hợp, vì hai bên ở hai hệ quy chiếu, khung tham khảo khác nhau. Chúng ta có thể phỏng đoán như vậy, không biết có đúng không.

     Loại tài liệu bằng ngoại ngữ nhiều vô số, tuy nhiên, mang ra thực hành không hiệu quả, cho dù chúng ta tin tưởng và kiên nhẫn. Hai tác phẩm kể trên tên là YOU FOREVER và HANDS OF LIGHT. Ngoài đời thường, trong lịch sử khoa học, ma hỗ trợ cho con người không phải là hiếm hay không có. (Tài liệu về hàng không của Mỹ có chính thức ghi nhận điều này).

     Đã có những lý thuyết của các vĩ nhân như SAKYA MUNI hay là PATANJALI… đã được các tác giả lớn trong và ngoài nước viết thành sách, chỉ việc học và thực hành…

     Quan điểm truyền thống này đã tồn tại trong nhiều ngàn năm, thực tế không thành công, chẳng thành tích nào được ghi nhận một cách khách quan về việc thực hành lý thuyết thiền định cổ điển, ngoài việc các vị tự xưng những danh xưng khác nhau. Điều này quí độc giả có thể kiểm chứng trên thực tế. Chỉ cần có một cái tên có vẻ Ấn Độ, Tây Tạng… là có thể mở một trung tâm Yoga bao gồm thiền định và những thứ khác. Có một vị có tên Ấn Độ, trong MENU có dạy thiền định Vedanta, hỏi cô lễ tân thiền định Vedanta là loại gì, thì cô cũng chẳng biết nữa.

      Đây là câu trả lời mơ mơ, hồ hồ cho hiện trạng này.

Các chuyên gia khi khảo cứu về văn hóa Ấn Độ nói chung và bộ môn thiền định nói riêng, họ mâu thuẫn với nhau rất nhiều vấn đề. Việc này xảy ra tại Việt Nam, hai vị lừng danh về đạo hạnh và học vấn: Thích Thiện Châu, Thích Minh Châu, có hai tác phẩm khác hẳn nhau về trường phái Sakya Muni, Thắng Pháp Tập Yếu Luận và Tam Pháp Độ Luận, một tài liệu là vô ngã, một tài liệu là những bằng chứng về sự hiện hữu của hữu ngã.

     Vậy còn tôi, tôi phải tin theo vị nào đây? Thế nào là hàng chính hiệu và tất nhiên là có hàng nhái! Chưa kể các hệ phái, kiểu kinh doanh đa cấp đang có ở xã hội Việt Nam.

      Xin quay lại vấn đề.

     Tuy nhiên, các chuyên gia đều đồng ý, thống nhất với nhau về một nội dung nêu sau: “ Những gì chúng ta hiểu và biết về các đại vĩ nhân như PATANJALI hay SAKYA MUNI… thì chắc chắn không phải những gì quí vị đó nghĩ và nói.”

      Theo quan điểm nói trên của các chuyên gia thì từ xa xưa tới nay, con người không thể thành công như PATANJALI hay vv… Không phải vì chúng ta thiếu trí tuệ, thua kém tiền nhân, mà vì chúng ta sử dụng phải hàng nhái, thuốc giả làm sao chữa được bệnh thật?

      Nói tóm lại, tin tưởng, nương tựa, hy vọng vào một lý thuyết thiền định chính quy cổ điển là một ý nghĩ không tưởng (UTOPIC). Chúng ta sẽ chết trước khi tìm ra sự thật. Không có thời mạt Pháp như lời đồn đại, mà chỉ vì con người thiếu can đảm và khôn ngoan, không dám nghĩ, không dám làm.

ELON MUSK là một thí dụ của ngày hôm nay. BRUNO là của lúc trước, vứt bỏ vỏ bọc quy ước, biến giấc mơ thành sự thật.

3.  Thiền định cổ điển Ấn Độ vi phạm quá nhiều sai lầm cơ bản.

      Về việc phân tích và nhận xét các đơn vị tâm, đã cấu tạo nên một chủ thể tâm lý (SUJET PSYCHOLOGIQUE)  - chính là con người chúng ta-. Từ một tổng hợp bán phần nói trên (SYNTHESES PARTIELLES) đưa đến một tổng hợp toàn phần (SYNTHESE TOTALE) như dạng luồng tâm thức ( CITTAVITHI) chẳng hạn, tâm vương (CITTA)…

      Có thể nhiều quí độc giả cũng biết, một trong những định luật quan trọng của tâm lý học, là định luật nhu cầu tình cảm.

            …Yêu ai yêu cả đường đi

            Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng

            …Khi đã ghét nhìn dơi hóa chuột

            vv…

      Ưa thích thiền định, cũng như các sở thích khác: đánh bài, uống rượu, phụ nữ… đều thuộc về tính chất lãng mãn của tình cảm con người bình thường.

      Tuy nhiên, tâm lý học thiền định lại xếp 3 yếu tố tâm: tham, sân, si vào loại tâm bất thiện. Loại cơ bản chủ yếu gọi là tâm Vương, CITTA. Tham ăn uống, tham tiền, tham tình dục… là yếu tố cần thiết để duy trì sự sống, sự tồn vong của các sinh vật nói chung, thiếu nó chủng loại đưa đến họa diệt chủng, quy luật đào thải tự nhiên cho thấy điều này. Tuy nhiên, còn lệ thuộc ở sự khôn ngoan, điều tiết. Dâm loạn như cổ Ai Cập, La Mã, Babylone hoặc dâm thư KAMA SUTRA của Ấn Độ đưa đến sự băng hoại của cả một quốc gia.

      Sự thật vì tham sống, sợ chết, nên người ta thực hành thiền định, dù là ngài PATANJALI hay một người bình thường cũng thế thôi. Phân tâm học gọi là nguyên lý khoái cảm (PRINCIPE DU PLAISIR). Nguyên lý này là tìm kiếm khoái cảm, tránh né khổ đau ( Rechercher l’ excitation de plaisir et à éviter la douleur), nguyên lý này được mô tả ngắn gọn trong Tứ Thánh Đế, Tứ Diệu Đế thì phải. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên vài yếu tố mang tính tượng trưng. Ở phần trình bày về giả thuyết cơ học thiền định, chúng ta sẽ đi vào một số chi tiết.

4. Đáp ứng còn hơn cả những gì khoa học gia hiện đại tiên đoán, vì nó đi qua được giới hạn của vật chất, ít tốn kém, dễ thực hiện, trong tầm tay của nhiều người bình thường.

      Theo thông tin đại chúng, có khoa học gia thiên tài hiện đại, tiên đoán về sự thay đổi của nhân loại trong tương lai:

            - Internet

            - Đa hành tinh

            - Nguồn năng lượng mới

            - Trí tuệ nhân tạo

            - Thay đổi mã di truyền

      Người nhập định có một cuộc sống ngoài hành tinh và thân xác vật lý. Có kiến thức ngoài cơ sở vật chất là não bộ, chẳng cần phải thay đổi mã di truyền, vẫn có một hoặc những cơ thể khác không khó khăn, phức tạp và có thể là nguy hiểm vì không thể lường trước được những hệ quả. Vì việc này phải chờ đợi nhiều thập kỷ, nhiều thế kỷ mới kiểm chứng được kết quả.

      Tuy nhiên, với sự dè dặt và thận trọng của khoa học, người ta khó có thể dự đoán được đâu là giới hạn của trí tuệ nhân tạo. Cuộc đua giữa khoa học hiện đại và bộ môn thiền định không ai dám chắc là việc gì sẽ xảy ra. Đường lối tốt nhất là hãy đợi và xem. Tuy nhiên, với quan niệm thực tế chủ nghĩa, thì thiền định ít tốn kém, có sẵn trong tầm với của hầu hết mọi người bình thường, dễ thực hiện, đáp ứng được định luật tâm lý, về trí tuệ ưa muốn tìm hiểu, học hỏi, về chính thân phận, định mệnh của mình, mà không cần nhờ vả vào ai cả. Mặt khác, như đã nói ở trên, đáp ứng được nhu cầu bản năng bảo tồn, do kinh nghiệm thiền định của bản thân, biết được sự tồn tại những hình thức sống khác, ở những hệ quy chiếu khác mà khoa học chưa xác  định được.

( còn tiếp)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 20/7/2020