Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định (8)

 

                                                                          CÒN RẤT NHIỀU KHÓ KHĂN
                                                   MÀ MẬT TÔNG TÂY TẠNG CHƯA GIẢI QUYẾT ĐƯỢC

      Ngày hôm nay, căn cứ trên thưc tế, chúng ta qui ước với nhau xem trường phái mật tông Tây Tạng, là đại diện cho trường phái SAKYA MUNI trên thế giới. Tuy nhiên, nếu đi vào góc cạnh học thuật thật sự, thì đây là đôi đũa lệch “ râu ông nọ cắm cằm bà kia”
      Thiền trường phái Sakya Muni, phần lớn là chân ngôn Patanjali, không phải là một tôn giáo. Người ta có thể thực hành thành công, không cần phải dựa vào một yếu tố huyền bí nào cả.    Thượng đế ở đây chỉ mang tính chất kỹ thật về tâm lý, cụ thể như câu 45 “ Tập trung vào đấng tối thượng đưa đến nhập định “. Rõ ràng là câu này là biến thể của công thức kinh điển “ Chú tâm vào một vật duy nhất. Còn rất nhiều câu khác trong 192 câu chân ngôn ,có đề cập đến một cái gì đó, có vẻ như ám chỉ Thượng đế. Thật ra, với một người có kinh nghiệm về thiền định, sẽ thấy thực tế những từ ngữ này chính là bản ngã của mình. Thí dụ câu 44” Nghiên cứu bản ngã đưa đến hợp nhất với bổn tôn “. Điều này chỉ có thể hiểu được, bằng kinh nghiệm thiền định thực tế của bản thân mình. Xin quí đọc giả nhớ lại, các hiện tượng tâm lý có tính chất “ nội tại “, đơn nhất tính, cá thể tính…chỉ có thể biết được bằng chính kinh nghiệm bản thân.

      Chính vì sự lệch lạc này, mà bộ môn thiền định của Ấn độ còn rất nhiều khó khăn chưa giải quyết được. Rất nhiều khó khăn có nguồn gốc từ nhiều ngàn năm trước, thời gian này khoa học hiện đại chưa có, nên người ta không thể giải quyết được, làm cho bộ môn thiền định ngày càng đi đến thế bế tắc. Cụ thể, có nhiều luật lệ đi ngược lại với tâm lý, sinh lý, giải phẩu cơ thể học, vật lý vv…Ta thử đi vào một lớp học Yoga, thiền định nào đó.Người dạy, bảo phải ngồi lưng cho thật thẳng, ngầm hiểu là luồng hỏa xà ( KUNDALINI ) từ luân xa thấp nhất, sẽ dễ dàng lên tới luân xa SAHASRARA, huyệt bách hội, biểu tượng là hoa sen ngàn cánh, ở trên đỉnh đầu.Sự thật, ai đi học đều biết xương sống đâu có thẳng . Mặc khác, ngồi vị thế hoa sen “ LOTUS POSITION ), với người nhiều tuổi, làm tăng áp huyết, hư hỏng các khớp xương đùi, chân…lợi chưa thấy, hại ngay trước mắt.Người ta luôn luôn ca ngợi, đề cao lối ngồi hoa sen, lưng thật thẳng. Lối điều thân ( ASANA )này không biết lấy cảm hứng từ đâu, có người cho là các vị Phật ngồi như vậy. Nhưng sự thật xưa nay, có ai đã nhìn thấy Vị Phật ngồi như vậy đâu!

      Các trường phái thiền định Ấn độ, đều có chung một mô hình, công thức tương tự nhau. Người ta gọi là công thức” bất tử “. Giới, định, huệ hoặc kỷ luật bản thân, kiểm soát tinh thần, tham thiền nhập định.vv…
      Khâu đầu tiên là giới, có thể hiểu là luật lệ, nội qui…mang tính chất cương tính- nói theo từ ngữ luật học-.
      Giới, thực tế là đưa ra một mô hình tinh thần, vật chất để sinh hoạt, cưỡng bức, ép buộc một người thực hành thiền định. Có lẽ ít ai biết, nguồn gốc mô hình này bắt nguồn từ đâu, hoàn toàn không dựa trên một nguồn gốc nào cả. Nếu nhìn ở góc cạnh khoa học hiện đại, thì không phù hợp, đôi khi mất vệ sịnh, tạo nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm cao, có thể đe dọa đến tính mạng, vì sống dưới một cái cây khi mưa to, sấm, sét…
      Chúng ta thử tìm hiểu những khó khăn này có nguồn gốc từ đâu.

      Một số hiện tượng mà chúng ta thường gặp ở một vài thành phố ở Việt nam và một số nước trên thế giới.
      Khi chúng tôi đang viết những dòng chữ này,, bỗng nhiên nghe câu “ A DI ĐÀ PHẬT “, được phổ nhạc, phát ra từ  loa kẹo kéo,  có âm lượng rất lớn, do 3 người hành khất khuyết tật đang  đẩy đi dọc theo đường phố.Hiện tượng mà quí vị gọi là “ khất sĩ “, nhìn thấy ở nhiều thành phố lớn, người được gọi là tu chuyên nghiệp thường được khuyến khích sống độc thân, ly gia, cắt ái; thậm chí là độc cư, tịnh thất, tịnh khẩu, vân vân và vân vân…cái thước đo đó là “ Kết quả cuối cùng “.
      Có nhiều ngôn ngữ có câu nói “ phương tiện nào cũng được, miễn là đạt được kết quả “, mấy ông Tây thì nói “ La fin justifie les moyens “, “ the and  justifies the means “
      Thực tế, có ai thấy các ngài đi khất thực, đọc, niệm thần chú nào đó…mà thành một bậc hơn nguời đâu.
      Thật ra những hiện tượng này, có nguồn gốc rất xa xưa, 2.000, 3.000 ngàn năm về trước ở Ấn độ.
      Gần đây nhất là việc niệm phật A DI ĐÀ ( xin nhắc lại, đây là sản phẩm của một nhà thần học  Trung quốc tên Từ Mẫn phát minh ra- 680- 748 sau tây lịch ). Sau  khi Tuệ Viễn thành lập Tịnh độ (330 sau tây lịch ). Từ đây, niệm Phật trở thành một vấn đề, có nên niệm hay  không?, có lẽ quí đọc giả cũng phân vân!, nếu niệm thì nên đọc tên ai?, người khai sinh ra trường phái này là ngài SAKYA MUNI, nay lại đọc tên ngài A DI ĐÀ là thế nào?. Nếu chúng ta đọc một số tài liệu-tạm gọi là gần với ý kiến của ngài Sakya Muni-, thì thấy chẳng niệm gì cả, Trung bộ kinh chẳng hạn.
      Thực tế, chúng ta thử hỏi một vị nào đó niệm “ A di đà phật “ suốt cả ngày, cả đời, rằng “ A DI ĐÀ “ là ai, thì có lẽ vị đó cũng chẳng biết trả lời sao nữa!.

     Nói về luật lệ, tài liệu Thanh Tịnh Đạo sử dụng 134 trang để ghi nhận và giải thích về các luật lệ. Tùy theo cấp bậc, số luật lệ phải tính bằng trăm ( bảng bằng tiếng Việt nam ).
      Thí dụ, nguời Campuchia tại bản sứ và đồng bằng sông cửu long Việt nam, trẻ em nam từ 12 đến 13 tuổi vào chùa để tu, học. Sau đó có thể ở lại lâu mau tùy ý. Lối sống này là theo giáo lý VEDA, gọi là thời kỳ đi học ( ANTEVACIN ). Đây là thời lỳ thứ nhất của một trong bốn giai đoạn của đời người.
      Người thực hành thiền định cũng hay có khuynh hướng khổ hạnh, làm một cái cốc ở trong rừng, khất thực vv…
      Việc ly gia, cắt ái, vào một cái cốc trong rừng, ở một mình rất phổ biến ở Việt nam. Việc này lấy cảm hứng từ thời kỳ thứ 3 của Ấn độ giáo gọi là VANAPRASTA ( đi vào rừng ).
 Ở Lâm đồng, Long thành, Châu đốc vv… có rất nhiều mô hình cư trú này.
      Việc lang thang hành khất là thời kỳ thứ 4 của kinh Veda gọi là ACRAMA, nói lên ý nghĩa không bị ràng buộc vào điều gì cả.

      Còn nhiều nơi cư trú khác như: ở dưới gốc cây, ở giữa trời, trong nghĩa địa, chổ nào cũng được vv…
       Thực tế và lý thuyết liệu có đi đôi với nhau?. Cách đây không lâu, có đôi vợ chồng còn trẻ vô tình lạc trong rừng, sau 6 ngày lẫn quẩn trong rừng tìmkhông được lối ra, người vợ có ý định tự tử. Nếu có vị đọc giả nào đó đã từng ở trong rừng chỉ vài ngày, không có trang thiết bị mang theo, sẽ vô cùng lúng túng, lúc đó mới ý thức được cuộc sống thành phố với đầy đủ tiện nghi là thiên đường tại thế. Rừng nhiệt đới như ở Việt nam rất khắc nghiệt cả ngày lẫn đêm, các loại côn trùng như vắt, đỉa, muỗi và biết bao nhiêu loại khác nữa tấn công ta liên tục, trời mưa lại là một thảm họa, lúc đó mới thấy mái nhà là quí giá biết bao! Vấn đề thưc phẩm, nước uống, vệ sinh, chiếu sáng ban đêm…Phải phân biệt một đoàn xe 2 cầu, đầy đủ tiện nghi, ở để chơi vài đêm, có cả một tập thể và việc sống một mình trong rừng với trang thiết bị tối thiểu, là hai việc khác hẳn nhau. Thực tế trong rừng không có gì để ăn, làm sao tồn tại để thiền định? Cái được gọi là cái cốc, ở thế kỷ 21 này còn được trang bị cả ghế massage cao cấp.Điều này hoàn toàn có thật trên thực tế tại một tỉnh ở Việt nam.
      Tiếp theo là  vấn đề tình dục
      Các trường phái nói chung, hay đề cao việc sống độc thân. Tuy nhiên Ki tô giáo, Mật tông Tây tạng lại có hệ phái có thể có gia đình, có tôn giáo lai có nhiều vợ.
      Vậy phải làm sao đây?, việc tuyệt dục tự nguyện có mang lại lợi ích tinh thân và vật chất?. Phân tâm học và sinh học ngày nay lại có quan điểm khác, tuyệt dục có lẽ có hại cả vật chất lẫn tinh thần. Ngược lại, một cuộc sống quân bình tình dục có lợi cho cả hai mặt vật chất, tinh thần, kể cả vận động viên thể lực.
      Một thực tế về việc thực hành thiền định, mà nhiều quí vị có thể ngạc nhiên,việc này quí vị có thể tìm thấy kinh nghiệm thực tế trên chính bản thân mình.Nếu việc sinh hoạt tình dục bình thường, thì khi nhập định được rất tốt, đặc biệt có chiều sâu, việc này chúng  ta tự biết. Ngược lại, việc sinh hoạt bất thường, nhập định trở nên khó khăn, định tâm không sâu. Rất nhiều quí vị gặp trường hợp này không hiểu tại sao, vì nghe người ta thường bảo nhau “ tồn tinh thành khí, khí thành thần “. Mình chủ động tồn tinh, lẽ ra phải có kết quả tích cưc,  tại sao ngươc lại như vậ? .Điều này chứng tỏ phân tâm học và sinh học hiện đại đã nói đúng ( việc này chúng ta sẽ tìm hiểu ở phần sau chi tiết hơn ).

ALEXIS CARREL, giải Nobel sinh lý 1912, cho là con người còn đầy dẫy những bí mật ( mời quí đọc giả tham khảo tác phẩm “ MAN, THE UNKNOWN, L’ home cet inconnu ).

      Phải chăng đây là một tác phẩm quan trọng, làm ảnh hưởng đến việc nhập định?, chỉ có thực nghiệm ở diện rộng, mới đánh giá được đúng hay sai. Chúng ta hy vọng rằng, sau này có cơ quan thẩm quyền sẽ mang ra thử nghiệm một cách khách quan để có câu trả lời chính thức.

      Việc phát hiện yếu tố đột biến này, trong việc thưc hành thiền định, chắc chắn sẽ tạo ra phản ứng không thuận lợi của các vị bảo thủ chủ nghĩa. Tiến trình chủ nghĩa là tiến trình biện chứng, phải chấp nhập phản đề, mới có được hợp đề.Thật vậy “ Rome was not built in one day“, câu này ai cũng biết. Nếu nhìn vào lịch sử thì bộ môn thiền định này chỉ có đề, chứ không có phản đề, ở đây muốn nói đến phản đề tích cực, chứ không phải là một phản đề tiêu cực. Có thể vì lý do này mà bộ môn thiền định không tiến lên được theo tiến trình lịch sử.

      Như chúng ta đã qui ước, vì căn cứ vào thực tế, Mật tông Tây tạng có vị Phật Sống, nên được coi là tiếng nói chính thức, đại diện cho trường phái Sakya Muni, xin phép nhắc lại điều này. Tuy nhiên, ngoài những khó khăn kể trên, còn rất nhiều khó khăn cơ bản khác cho người thiền định. Mật giáo Tây tạng thật sự bó tay, thả nổi vấn đề, có thể kể sau một số vấn đề, mà người thiền định thực sự ai cũng quan tâm, vì nó gắn bó  thực tế đến cuộc sống đời thường.

      Sinh lý, tâm lý cơ bản của một sinh vật, thí dụ cụ thể: hấp thu, chuyển hóa, bài tiết, sinh sản…là đối thủ hay là bạn của bộ môn thiền định. Về mặt tâm lý, những định luật cơ bản nhu cầu của tâm lý học,  những bản năng cơ bản ( nếu công nhận là có bản năng ) tôi phải làm sao?

      Trước tình hình này, đến một lúc nào đó, một số lý thuyết bắt bắt buộc phải ra đời, để đáp ứng nhu cầu thiền định. GIẢ THUYẾT CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH là một trong những lý thuyết đó.

 

( còn tiếp)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 11/7/2020