Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định (7)

                                                                  GIẢ THUYẾt CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH

                                                 GỠ THẾ BÍ CHO TRƯỜNG PHÁI THIỀN ĐỊNH ẤN ĐỘ

Theo thông tin đại chúng, tín đồ của trường phái Sakya Muni ở Ấn Độ chưa đến 8 triệu người, còn trường phái thiền định RAJA YOGA số tín đồ không được đề cập đến.Nếu cho thống kê này tương đối minh họa bức tranh thực tế, thì những trường phái thiền định khác đã thua ngay tại sân nhà. Người ta nêu ra nhiều lý do chủ quan, khách quan…của việc suy tàn như quí đọc giả đã biết quá nhiều. Nhưng có lẽ bản chất vấn đề lai không thấy đề cập đến, không có kỹ thuật nhập định thiết thực và hữu hiệu, kể cả đến ngày nay. Tất cả chỉ là sao kinh, chép sách, lý thuyết “ suông ”. Người ta dạy những điều mà có lẽ chính mình không làm được. Tóm lại, thiền định Ấn Độ đã được sinh ra trong cơn hấp hối, cái chết đã được báo trước,chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Những người gỡ thế bí phải kể đến một số hệ phái điển hình nêu sau:

Tại Âu Châu:Bà BLAVATSKY và đại tá OLCOTT với Hội Thông Thiên Học.

Tại Trung Quốc:

Di Đà Giáo.

Thiền tông.

Tại Tây Tạng:Mật tông Tây Tạng.

Ngay tại miền nam Việt Nam: Phật giáo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Vô Vi vàcòn nhiều nhiều nữa…

Có phải thực sự thiền định của Ấn Độ tìm được những chiếc phao cứu sinh?. Một khi chiếcchìa khóa nhập định ở vào thế kẹt, thì người ta phải tìm ra cách naò dễ hơn, để đáp ứng nhucầu của quần chúng.

Liên tông, Tịnh độ tông, Di đà giáo… hoàn toàn đáp ứng đúng thị hiếu, nhu cầu của quảngđại quần chúng. Đây là một kiệt tác mang nhãn hiệu MADE IN CHINA, ngày hôm nay lan tỏakhắp thế giới, còn hơn cả con đường tơ lụa. Có tài liệu cho là 99% cái gọi là Phật giáo Ấn Độ,thật ra là của Trung quốc.

Tại sao chúng ta lại phải tìm hiểu chi tiết về vấn đề này?, phải chăng đây là ý đồ của mộtthuyết âm mưu nào đó ( CONSPIRACY ). Người ta muốn biết trường phái thiền định Patanjali,Sakya Muni, có thực sự tìm được chiếc phao cứu sinh hay không.

Từ lý thuyết cho đến thực hành, hai trường này, thiền và tịnh độ khác hẳn nhau. Chúng tasẽ đối chiếu sơ qua. Nói nôm na là Tịnh độ chỉ mượn thương hiệu, kể cả ngày hôm nay, Trung Hoa có sở thích, tập quán hay làm hàng FAKE. Nạn nhân như : đồng hồ Thụy Sĩ, xe hơi của cácnhãn hiêu nổi tiếng, máy bay thế hệ thứ 5 của Mỹ vv… chính chúng ta cũng thường xuyên là nạnnhân của hiện trạng này.

Có lẽ ai cũng biết, trường phái Sakya Muni có vài tiêu chí cơ bản như: giới, định, huệ, tứ diệuđế vv…bán thân lý lịch của ngài Sakya Muni cũng có một huyền sử được qui ước tạm thời.Ngài A-Di- Đà laị không có cả một huyền sử, ID mơ hồ. Theo chuyên gia EDWARD CONZE“việc thờ phụng phật A-Di-Đà phát sinh từ tây bắc Ấn Độ, du nhập vàoTrung Quốc ( 150 sau TL)”Tài liệu tại TAIWAN thì cho là Tuệ Viễn đã giới thiệu Phật A-DI-Đà ( 402 ) và Từ Mẫn ( 680-748)là một nhà thần học nghĩ ra cách niệm phật...

Trong tài liệu DIVYAVADAVA ( P 258-9 ) có viết “ giới luật để làm gì? chỉ cần niệm đi lại câunày: Nam mô Phật, Nam mô Pháp”, giới, định huệ “ đã được gỡ bỏ, không phân biệt hiền lươnghay tội phạm, đều được nhận vào cõi Cực Lạc, chỉ cần tin vào A DI Đà, thế là đáp ứng được điềukiện ắt có và đủ. Nói tóm lại, giải thoát đã được khuyến mãi, đại hạ giá. Bát Chánh Đạo đã đượcđơn giản hóa đến mức khó ngờ, thiền định đã được hủy bỏ, có thể coi đây là một cuộc đảochánh mềm, quí ngài A DI ĐÀ đã thay thế SAKYA MUNI một cách hiệu quả. Thực tế ai cũng chàonhau một cách bản năng “ A DI ĐÀ PHẬT “. Tại Việt Nam BAHKTI là lòng sùng tín cá nhân, thaythế cho con đường trí tuệ khó khăn, cực nhọc. A DI ĐÀ là đấng cứu thế thay cho SAKYA MUNI làmột kẻ chỉ đường.

Phật giáo Trung Quốc cũng có trường phái Thiền tông, gọi là” Phật tâm tông “. Trường pháinày đề xướng cách tu “ đốn ngộ “ ( giác ngộ ngay tức thì ), gọi nôm na là tu “ tắt “, không cần lýthuyết, tài liệu, văn tự, thấy tính thành phật. Tài liệu “ Đàn kinh “ có ghi “ không tu tức là ngườithường, khởi lên một niệm tu hành là bằng pháp thân Phật. Bản tính đốn ngộ là tư tưởng cănbản của Thiền tông. Trường phái này cũng khá thịnh hành ở Việt Nam, vì nó tạo ra hoang mang,bán tín, bán nghi.

Câu đố sau đây chắc chắn rất nhiều quí đọc giả đã biết “ Kiếng muốn sạch thì có cần lau haykhông ?”, nếu chúng ta được phỏng vấn khi xin việc làm lao đông thô sơ, chắc chắn chúng ta sẽ trả lời “ tôi sẽ lau kiếng thật sạch bằng nước rửa kiếng mua ở siêu thị”. Câu trả lời đúng theo kiểu Trung Quốc là “ Kiếng vốn sạch không cần phải lau”,. Như vậy chắc quí vị cũng biết chắc kếtquả là gì rồi!

Quí đọc giả có thể tự kết luận về hệ về hệ quả của hai trường phái thiền định của Ngài SakyaMuni và Patanjali.

Theo một số chuyên gia, Mật Tông Tây Tạng hay tự nhận mình là Phật giáo nguyên thủy.Điều này người ta cho đó là sự suy đồi về tri thức lành mạnh. Trường phái Sakya Muni hoàntoàn duy lý, không pha một chút siêu nhiên hay thần bí nào cả. Thần linh được sắp xếp vào hệthống cảnh giới, tùy thuộc vào sự phấn đấu trên nấc thang tiến hòa tâm linh.

Bỏ qua những nhận xét của các chuyên gia về mặt lý thuyết, Mật Tông chắc hẳn phải có cáigì thực tế, nên nổi bật hơn các tôn giáo lớn trên thế giới như KI Tô giáo, Hồi giáo.Điều này hoàn toàn có thể giải thích bằng kinh nghiệm thực tế, với sự trợ giúp của tâm lýhọc. Còn có một lối giải thích khác, theo các tín đồ mật tông, cho đó là sự hiện diện linh nghiệmcủa các vị được triệu thỉnh ( mời đến ) trong MANDALA.

Thủ tục để triển khai một Mandala gồm rất nhiều nghi lễ phức tạp do con người bày ra, thờigian kéo dài rất lâu và rất tốn kém. Đôi khi người ta cũng thấy các cơ sở tôn giáo ở Việt Nam cóthực hiện các Mandala theo đơn đặt hàng. Nếu quan sát với tính cách như một khán giả, thìthấy như một kịch bản phức tạp, khá nhàm chán, diễn đi, diễn lại, cùng một số diễn viên cũ, điqua, lại đi lại, miệng nói những câu hầu như vô nghĩa, có cả tiếng Việt.

Mandala có rất nhiều loại: tranh vẽ, bột cát nhụôm màu, thân thể ( thí dụ như quán các luânxa ) ( Chakra ). ba chiều 3D, mandala để tập trung thnh thần.Trong 5 loại mandala kể trên, thì loại thân thể và tinh thần (BSAM-GTAN-GYI-DRYIL-KHOR )là khó nhất.

Mandala dùng để làm gì?Trước nhất nên hiểu tính chất của Mandala là tự tính( INTRINSIS) và phổ dụng (UNIVERSAL )Công dụng là hỗ trợ thiền định, đưa người thực hiện đến giác ngộ, nhờ thiền định vượt quacác nhận thức, tri thức sai lạc. Sau đây mô tả sơ lược cúa một người thực hiên Mandala tinhthần.

Bỏ qua các thủ tục hành chính, chúng ta ngồi, nằm gì đó làm sao cho thư giản nhất có thể,phải học thuộc lòng kịch bán đã có sẵn, sau đó, hãy tưởng tượng sáng tạo ra các hình ảnh, âmthanh, có mình tham dự trong một kịch bản phức tạp và dài. Ta tưởng tượng nghe thấy âmthanh của chân ngôn, hình dung cụ thể một vị Phật, thần linh nào đó. Tưởng tưởng cái ấn(MURDA ) bằng hình ảnh và hiểu ý nghĩa của chân ngôn. Mục đích dùng làm gì?, Mandala là mộtvở kịch dài, có rất nhiều màn. Tất cả vở kịch này được diễn ra trong tưởng tượng, trong sự imlặng, chúng ta thấy mình vừa là người viết kịch bản, vừa là đạo diễn, đồng thời là khán giả, đôikhi lại thấy mình là diễn viên. Nói tóm lại, trong tư tưởng chúng ta phải nhớ, phải chứa đựnghang trăm ngàn chi tiết thuộc về hình ảnh của các giác quan.

Theo quan điểm của giả thuyết cơ học thiền định, thì đây là” hiệu ứng quá tải tâm lý “, đưađến mất ý thức, hệ quả là tạo được trạng thái nhập định một cách vô tình. Hiện tượng này sẽ được trình bày ở những phần sau.

Tình cờ trường phái Mật tông Tây Tạng, đã tạo ra được một kỹ thuật nhập định rất phù hợpvới các định luật tâm lý học ngày nay. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở đó, không có hệ thống, kỹthuật, lý thuyết, chỉ là gặp may, có thế thôi!

Chính nhờ vào kỹ thuật tình cờ này, mà Mật tông Tây Tạng trở nên nổi tiếng. Vì ở trạng thái rất khó thực hiện, người ta có thể có những khả năng khác bình thường.Quí đọc giảvì lý do nào đó, nhập định được, có khi thấy việc sẽ xẩy ra và ngạc nhiên sao mình lại biết trướctương lai. Xin thưa vắn tắt, có những trạng thái ở đó thời gian “ co lại “ hoặc “ không có thời gian “.

Mật tông Tây Tạng ít nhiều có làm cho các trường phái thiền định Ấn Độ trở nên nổi tiếng.Xin nhắc lại, người ta cho Liên Hoa Sanh là cha đẻ, kiến trúc sư của Mật tông Tây Tạng. ( PADMASAMBHAVA ) 750 sau TL.

Tại Tây phương 1875, bà BLAVATSKY và Đại tá OLCOTT sáng lập “ Hội thông thiên học “. ÔngOLCOTT có viết một tài liệu “ Phật giáo đại cương “, bà BLAVATKY viết rất nhiều tài liệu nổi tiếng trên thực tế. Ông OLCOTT còn thiết kế lại lá cờ phật giáo, hiện đang được sử dụng trênkhắp thế giới.

Theo qui ước , màu xanh dương của trong lá cờ là biểu tượng của thiền định.

Tại Trung quốc, trường phái thiến định nhiều vô số kể. Có thể còn nhiều hệ phái khác màchúng ta không biết hết được

Nếu coi những tài liệu luận và chân ngôn PATANJALI là bí kíp thiền định của Ấn độ, , thì chođến ngày hôm nay, thực tế hình như người ta không giải mã được. Do đó , không thể vân dụngvào thực tế. Có rất nhiều chuyên gia Tây phương, viết nhiều tài liệu nói về thành quả tích cựctrong việc thực hành thiền định, những tài liệu này mô tả rất chi tiết, phù hợp với các lý thuyếtvề các lớp thiền định. Chính tại đây, người ta thấy các khoa học gia Tây phương không có năng khiếu bẩm sinh về thiền định thì phải?. Lấy gì làm bằng vớ để phát biểu như vậy?, họ là chuyêngia, chuyên viên, khoa học gia hàng đầu ngành, hơn hẳn mọi người…đấy chính là trở ngại cho quí vị đó,họ đã sử dụng luận lý hình thức qua quen thuộc, để tìm hiểu và giải thích về trạng thái thiền định, ở trạng thái thiền định, mà phải nói có nhiều trạng thái thiền định, nó lại có những loại luận lý hình thức khác.Do đó, con mắt thứ ba là một cái gì xa lạ, mà đối với khoa học hiệnđại không thể giải thích được.

Nói tóm lại, nhìn qua lịch sử nhiều ngàn năm của bộ môn thiền định, thì nói một cách nônna, không có con thừa kế là nhà không có phúc.

( còn tiếp)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 28/6/2020