Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định (11)

                                                                  GIẢ THUYẾT CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH  

                ĐÂY LÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ THỂ QUÍ VỊ CẦN QUAN TÂM TRƯỚC KHI THỰC HÀNH. ( Tiếp Theo)

 

Khoa học chính hiệu và khoa học giả hiệu ( Pseudo Science)

Khoa học ngày hôm nay dựa trên công cụ là các giác quan và đối tượng của các giác quan. Về tinh thần thì dựa trên luận lý hình thức, còn những gì ở ngoài – cái đương nhiên được coi là tri thức luận lành mạnh -  là hoang tưởng, hay đúng hơn là khoa học giả hiệu.

Phải chăng đây là một loại “vòng kim cô”, tạo ra cuộc khủng hoảng không đáng có của khoa học về các hiện tượng của thế giới tự nhiên?

Ai cũng có thể làm một thử nghiệm khá đơn giản sau đây: là nhớ về một quá khứ nào đó, thật ra việc này cũng đã từng xảy ra với bất cứ ai. Chúng ta từng thấy mình sống lại trong quá khứ, ở một địa điểm nào, với ai đó, cùng những tình cảm vui buồn. Nó là một sự kiện hiển nhiên, hiện hữu ở một loại không gian khác biệt với không gian mà chúng ta đang sinh hoạt. Cụ thể là không gian của thế giới tư tưởng, tâm lý, tinh thần… Bộ môn thiền định gọi là sắc giới, sắc là cái gì đó có hình thể - xin phép nhắc lại -  sắc không phải là vật chất, một khái niệm không có trong vật lý. Những gì chúng ta tri giác được bằng hình ảnh, ở bất cứ dạng nào đều được coi là sắc, sắc có một phổ rất rộng. Do đó, coi ảo là quan điểm chủ quan chứ không phải khách quan, “ảo” có thể hiểu là không có thật. Nếu cho là không có thật, tại sao chúng ta lại biết được sự hiện hữu? Theo triết học, chủ thể tâm lý khi biết, ý thức cái gì đó, có vẻ nhịp cầu chân lý, được đáp ứng khá đầy đủ. Có thể đó là sự yếu kém của khả năng tri giác của con người với các hiện tượng của thế giới tự nhiên.

Chó có thị giác về màu sắc kém con người, nhưng thế giới khứu giác lại phong phú, muôn mùi, muôn vẻ, vì mạnh hơn con người cả một trăm ngàn lần! So với chó, chúng ta thực sự thô sơ, ấu trĩ, ngớ ngẩn về thế giới khứu giác. Chó biết nó sẽ bảo: các bạn là người “mù” về thế giới khứu giác, tôi là thầy của các bạn về lĩnh vực này. Điều này đúng trên thực tế, chúng ta đi theo chó. Theo tâm lý học, mùi cũng là hình ảnh của khứu giác. Cơ thể tinh thần ở chỗ nào là do ý chí mình muốn. Khi tập trung tinh thần, thì cơ thể tinh thần ở nơi mình mong muốn (quý độc giả có thể thử nghiệm ngay lúc này)

Hệ quả tích cực của thiền định cho chúng ta tiếp cận với thế giới tự nhiên một cách khác, chúng ta có những giác quan và những luận lý hình thức khác, đưa đến một tri thức luận khác. Nếu quý độc giả nào từng trải qua, có lẽ thấy nó rất thực tế, thực dụng. Kể cả chúng ta là một người được đào tạo bài bản, lâu dài về khoa học hiện đại và yêu thích khoa học, cũng thay đổi suy nghĩ, quan điểm,… hiểu về mình hơn, hiểu về người hơn, mình thấy thoái mái hơn về các hiện tượng xã hội mà mình đang sống.

Có bao giờ thiền định lại là một bộ môn gỡ thế bí cho khoa học hiện đại, biết đâu nó là khoa học của tương lai, nó là niềm hy vọng.

Lịch sử khoa học đầy rẫy những kinh nghiệm giả hiệu trở thành chính hiệu, chính hiệu lại hóa ra giả hiệu, xem ra khoa học cũng khác chính trị, lý của kẻ mạnh bao giờ cũng đúng, sự thật hãy trả về cho sự thật.

Để tiếp cận với thiền định: giới hạn của kiến thức đời thường.

Cũng như bất cứ bộ môn học nào, đòi hỏi phải có một số vốn liếng nào đó, thí dụ: tâm lý học, sinh học, vật lý… để đi qua bức tường thế năng vô hình đưa đến định tâm, một số bộ môn kể trên giúp chúng ta rất nhiều. Có quý vị nhiều tuổi, cứ cố ngồi kiết già, lâu ngày bị hỏng khớp xương háng, phải giải phẩu ở Mỹ, tốn rất nhiều tiền và còn nhiều hệ lụy phức tạp khác. Có vị khi thiền xong, chà lên áo len, thấy có tia lửa điện nhỏ kêu lách tách, tự cho là mình đã thành công, thật ra đó chỉ là tĩnh điện.

Ý thức có khả năng gấp lên chính mình, mình biết được mình. Kiến thức về tâm lý học làm chúng ta tránh được các hiện tượng tiêu cực về tâm lý. Thí dụ, tránh được ít nhiều tình trạng dồn nén, hiểu rõ và thỏa thuận được các  bản năng, không tránh né, sợ hãi, cho là tội lỗi.

Xin nhắc lại, trường phái Sakya Muni, Raja Yoga hay mấy ông Tây đều cho là “hiểu biết là chiếc chìa khóa mở tất cả các cánh cửa”. Thật vậy, “vô tri thì bất mộ”, thực hành thiền định cũng rất cần sự hiểu biết như tất cả các bộ môn khác. Trường phái Sakya Muni có chế tác ra bát chánh đạo, có lẽ cũng vì muốn cung cấp một số kiến thức cơ bản, thiết yếu để thực hành thiền định.

Tuy nhiên, một điều mà chúng ta có lẽ rất nên quan tâm, kiến thức thông thường của các bộ môn được học ở nhà trường, ở các cấp, chỉ giúp ta rất hiệu quả ở các khu vực trước khi nhập định. Cụ thể là, nó giúp chúng ta làm sao chủ động, làm mất đi ý thức một cách có ý thức. Nó chính là chìa khóa để mở cánh cửa tạo trạng thái định tâm, mà thuở xưa người ta chưa làm được, vì thiếu hiểu biết về khoa học tâm lý, sinh lý… Nếu nhập được định, mọi việc lại khác hoàn toàn. Đã đến lúc có lẽ nên can đảm, bỏ lại những kiến thức thế gian ở đằng sau lưng, để hội nhập với một môi trường khác, nên tiếp nhận những giác quan và những đối tượng của giác quan một cách cởi mở, một loại luận lý hình thức khác, một loại tri thức luận khác xuất hiện. Chúng ta bỗng dưng trở thành một con người khác, không nên lo âu, tôi vẫn là tôi. Tùy theo phấn đấu của từng cá nhân, tôi nhận biết về tôi có khác biệt một cách từ từ. Từ một cái tôi với lo âu, sợ hãi, buồn phiền, được cải thiện từ từ nhờ các kiến thức học hỏi được trong lúc nhập định, nhiều vấn nạn được giải đáp. Người thế gian gọi là con mắt thứ 3, mở nhãn, mở huệ.

(Phần này sẽ được trình bày cặn kẽ hơn ở cuối tập tài liệu với đầu đề “ Định luật cấu tạo tâm”)

Bệnh MASOCHISM rất phổ biến với người thực hành thiền định.

Có tài liệu Việt Nam dịch là  “tình dục biến thái”, thật đáng quan ngại vì nó không phù hợp với tinh thần tổng quát của phân tâm học thì phải, thuyết minh này chỉ mới nói lên một mặt của từ ngữ. Xin phép được phỏng dịch “ Thú vui đau thương” mặt trái của “ Thú vui tàn ác”  (SADISM) có thể gọi chung là “SADOMASOCHISM”. Có thể hiểu cụ thể ở mức độ nhẹ nhất, là tự làm tổn thương để cảm thấy khoái lạc, bao hàm xuất phát từ “Thú vui tàn ác”

Trong tôn giáo, người ta tìm thấy những trường phái khổ hạnh nhiều vô số, hình như tôn giáo nào cũng có, họ tự đánh vào mình cho đến chảy máu, tuyệt thực, tự hành hạ đủ các hình thức: lang thang xin ăn, chỉ ăn có một bữa, ngủ ngồi…

Trong văn chương cũng có, thí dụ:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé…

… Nếu chót đi em hãy gắng quay về…

… Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở…

hoặc

Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé…

… Em bước vội để che lòng trống vắng

 

 

Hiện tượng xã hội

Thông tin đại chúng cho biết, có một quý ngài, tự làm tổn thương mình (humiliated) bằng một cuộc sống làm việc khá vất vả, khác thường, với danh nghĩa tự tạo là nhân đạo, từ thiện,… Thật ra mặc cảm tự ti và mặc cảm tự tôn (complexe d’ inferiorité et complexe de superiorité) chỉ là hai mặt của sự yếu đuối vốn có của con người (Faiblesse humaine). Theo phân tích tâm lý học, có hàng trăm yếu tố tâm lý, có khả năng tham dự vào hiện tượng tâm lý không phổ thông lắm. Định luật tâm lý cho biết, do bản năng bảo tồn là nguyên động lực (PROMOTEUR), tất cả đều là vị kỷ, vị tha chỉ là một hình thức khiêm tốn giả tạo ( fausse modestie – false modesty)

Một trong những quan điểm trung đạo của trường phái Sakya Muni là “không buông thả trong những dục lạc thấp hèn, cũng không hành thân, hoại xác một cách vô ích”

Tìm hiểu trên thực tế ( xin nói rõ không phải là thống kê có tính cách khoa học), ít ai thiền định sống trên 70 tuổi. Thậm chí, 60 tuổi đã bị tai biến (hémorragie cérébrale), xuất huyết não. Dường như cuộc sống khắc khổ về vật chất và tinh thần không có lợi cho sức khỏe.

 

Vấn đề ăn chay

Ăn chay thường được đề nghị đi kèm với bộ môn thiền định khi mang tính chất chuyên nghiệp. Thực tế ăn chay ít nhiều cũng mang tính chất khổ hạnh, việc này cũng rất khó khăn với nhiều người, vì nó không đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ vốn có của vị giác. Mặc dù ăn chay được mô tả như là mang tính chất hiếu sinh, từ bi… Thực tế mục đích này chỉ mang tính chất hết sức tương đối, chúng ta vẫn phải tuân theo định luật đào thải tự nhiên (selection naturelle) và chiến đấu để sinh tồn (lutte pour la vie), ăn chính, uống sôi ai cũng phải làm hằng ngày. Trong đời người, ai cũng từng bị nhiễm trùng, chúng ta uống trụ sinh, kháng sinh… để sát trùng, rửa tay, bịt khẩu trang.

Nếu chỉ ăn rau củ quả thuần túy, thì có nguy cơ tự tạo ra rất nhiều thứ bệnh, thực tế là hình thức tự sát chậm, có thể đó là lý do người tu thuộc trường phái ăn chay truyền thống cổ điển hay chết sớm, chỉ trên dưới 60 tuổi.

Amino acid là đơn vị cấu trúc cơ bản của protein, protein là viên gạch của tế bào, có ít nhất là 9 amino acid, thiết yếu do thức ăn cung cấp, cơ thể chúng ta không tổng hợp được. Nếu ăn chay thuần túy là rau, đậu, củ quả,… thì phải bổ sung amino acid bằng thực phẩm chức năng chẳng hạn, trứng không có trống. Thực tế việc này dễ thực hiện, trứng công nhiệp, sữa… khá rẻ.

Ăn chay khi ít tuổi còn “lướt” qua được, khi nhiều tuổi sanh ra rất nhiều bệnh tật cho cơ thể vật lý. Tuy nhiên, ngày hôm nay nhờ sự tiến bộ của khoa học việc này hoàn toàn có thể giải quyết được. Do đó, ăn chay thuần túy là hoàn toàn khả thi, tránh được rất nhiều bệnh do ăn thịt, mà vẫn khỏe mạnh bình thường. Quý vị nên đến bác sĩ để tư vấn, như vậy có cơ sở khoa học đáng tin cậy.

Xin quý độc giả đón xem bài viết tiếp theo “ Thao tác vật lý và tâm lý có khả năng đưa đến nhập định”

 

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 05/9/2020