Con mắt thứ ba - giả thuyết cơ học thiền định (10)

                                                                                        

                       ĐÂY LÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ THỂ QUÍ VỊ CẦN QUAN TÂM TRƯỚC KHI THỰC HÀNH.


Thiền định có thể chia ra làm một số giai đoạn sau

A-    Tinh thần hoặc tâm lý ở trạng thái bình thường

B-     Sử dụng một số kỹ thuật nào đó ( tinh thần, vật chất ) để tạo ra trạng thái, khác với trạng thái tâm lý bình thường.

C-     Trong những trạng thái, khác với trạng thái bình thường, có trạng  thái được mô tả là định tâm, tâm lý đứng im. Hiện tượng mà tâm lý học gọi là hồi cố phản ý  (RAPPEL MALGRE’  NOUS - AGAINST OUR WIIL ) hoàn toàn chấm dứt ( thiền định gọi là phóng tâm ). Hệ quả cụ thể, một số yếu tố của đời sống tình cảm- nói theo tâm lý học_ xuất hiện:  vui mừng, khoái lạc thay thế cho đau khổ. Về mặt vật chất, cải thiện hệ miễn dịch, xuất hiện một số hóa chất: dopamine, noradrenaline, seretonine v.v…

Theo khoa học ngày hôm nay, não bộ có khả năng thích nghi và phát triển, kể cả tuổi già, gọi là “não bộ dẻo”, thiền định là thách thức và luyện tập não bộ. Người già bị suy giảm là do cuộc sống đơn điệu, lười biếng.

Tuy nhiên, thiền định cũng có mặt tiêu cực. Về mặt tinh thần, tâm lý hay kiêu ngạo, tự cho mình là gì đó…,bị ma nhập là phổ biến nhất, khoa học gọi là rối loạn nhân cách ( PERSONALITY DISORDER – DISSORCIATIVE IDENTITY DISSORDER ). Việc quán tưởng  VIPASSANA có thể đưa đến hủy hoại thân thể, tự tử đã được ghi nhận trên thực tế.

      Tài liệu này chỉ trình bày phần kỹ thuật nhập định.

Thao tác thực tế, vận dụng các bộ môn khoa học để giải thích, ai cũng có thể hiểu được. Trên cơ sở này, việc nhập định có thể không bao giờ thất bại. Hiểu biết về lý thuyết làm chủ được kỹ thuật nhập định, tự sữa chữa, điều chỉnh những trở ngại. Mặt khác, tự tạo ra muôn vàn mô hình để nhập định có hiệu quả cao phù hợp với chính mình, cân chỉnh liều lượng, cường độ của một mô hình nào đó, đưa chúng ta đến mức độ định tâm cao nhất. Cấu tạo tâm không ai giống ai, xin nhắc lại, hiện tượng tâm lý là nội tại, có tính chất cá thể. Việc này chống lại một cách hiệu quả định luật tâm lý thích nghi, nếu biết vận dụng mô hình đa dạng. Chúng  ta nên lưu ý, vật chất cũng như tâm lý có khả năng thích nghi để tồn tại, chính lý do này là một sai lầm lớn của lý thuyết thiền định cổ điển, đưa đến thất bại trong việc nhập định, vì nó vi phạm định luật thích nghi của tâm lý học.

Ai cũng có thể thực hành thiền định.

Nói chung, ai cũng có thể thiền định, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo,vv…. Tuy nhiên, cũng như bất cứ một bộ môn học thông thường nào khác, muốn trở nên chuyên nghiệp cũng phải có một số yêu cầu tối thiểu. Thí dụ: sức khỏe, đam mê, kiên nhẫn và kiến thức. Bộ môn thiền định cũng không ngoại lệ, có tài liệu đã ghi nhận “Tài sản lớn nhất trong đời là sức khỏe và sự hiểu biết”, “Thiếu sót lớn nhất trong đời là thiếu hiểu biết”,  “Không có minh triết không thể thực hành Raja Yoga”

Thời gian nào cũng được.

Tùy vào sinh hoạt của từng cá nhân, ai cũng phải làm việc để tồn tại, mỗi nghề nghiệp lại có thời gian làm việc khác nhau. Do đó, chúng ta chọn thời gian nào thuận tiện nhất, phù hợp nhất thì thiền định. Đam mê, ý chí và kiên nhẫn còn cần hơn cả thời gian.

Địa điểm nào cũng được.

Đòi hỏi một địa điểm lý tưởng là không thực tế, nên thích nghi với bất cứ địa điểm nào. Thí dụ: trên các phương tiện vận chuyển, hành trình kéo dài 1h30  đến 2h. Ở đâu có tiếng âm nhạc, ca hát, tiếng nói là trở ngại lớn. Tâm lý học cho biết, cảm giác xua đuổi hình ảnh, cảm giác mạnh hơn hình ảnh, vì hình ảnh là cạn bã của cảm giác. Chúng ta dùng hình ảnh để quán tưởng, tập trung chú ý, làm cho ý thức quá tải. Nói một cách khác, ở giai đoạn định tâm, cảm giác là kẻ thù của hình ảnh.

Có lẽ hầu hết mọi người cho là, chỉ cần có một cái cốc là một căn nhà nhỏ đơn sơ ở nơi yên tĩnh, là một địa điểm lý tưởng để thiền định. Thực tế không phải như người ta nghĩ, tưởng tượng. Một cái cốc đúng nghĩa là một túp lều đơn sơ, một căn nhà rất nhỏ…. Thế rồi vì nhu cầu sinh hoạt tối thiểu phải “cơi nới”. Vệ sinh ở đâu? Ăn uống, rửa chén đũa, đôi khi có người đến thăm viếng… Nói tóm lại, “túp lều lý tưởng” không có trên thực tế, vì các nhu cầu chủ quan như vừa nói ở trên. Còn yếu tố khách quan, túp lều nhỏ không đủ sức chống chọi với mưa, nắng, gió, nóng, lạnh… chỉ cần che thêm một mái hiên nhỏ là khí hậu đã bớt khắc nghiệt. Ở nơi hẻo lánh cũng là một khó khăn cho cuộc sống: thức ăn, thuốc, nhu yếu phẩm. Địa phương có để cho chúng ta yên không? Ngày nay nếu chúng ta vào thăm một cái gọi là cốc, thì có thể đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tiện nghi có khi còn hơn cả nhà một người dân trung lưu bình thường.

Tóm lại, thực hành ngay tại nhà mình là thực tế, ngon, bổ, đẹp, rẻ… không tăng thêm chi phí , không làm phiền ai, ít rắc rối. Thực tế, có thể thực hiện được ngay.

Làm việc gì với những điều kiện nói trên.

Thiền định là một việc làm đơn giản, không đòi hỏi “phụ gia, phụ kiện” phức tạp nào cả. Có rất nhiều cách để định nghĩa, mô tả thiền định trên thực tế. Thí dụ: đây là một trạng thái tâm lý, tinh thần, mang tính chất nhân tạo. Một cá nhân bất kì cố gắng thay đổi thân phận tinh thần vốn có của mình. Hành động thực tế, hữu hiệu để phủ nhận lý thuyết định mệnh, khoa học thực nghiệm, vận dụng những quy luật của thế giới tự nhiên, đưa con người vào một thế giới chưa xác định được. Khoa học của tương lai, giải quyết cuộc khủng hoảng của khoa học vật chất, phá vỡ hoàn toàn giới hạn của vật chất, vận tốc của vật chất có giới hạn nào đó, tinh thần thì không. Tinh thần hoặc tâm lý không còn e ngại, vũ trụ là hữu hạn hay vô hạn vv…. qua thực hành thiền định, quý độc giả sẽ đánh giá, phán xét những nhận xét ở trên có phù hợp với thực tế hay không?

Những vấn đề làm “điên đầu”  những triết gia, khoa học gia như không gian, thời gian, trong lúc định tâm thực sự chúng ta vỡ lẽ nó không hiện hữu trong thế giới tinh thần. Cụ thể là, có thể có quý độc giả nhờ thiền định, biết được việc đã qua và việc sắp tới một cách vô tình và có kiểm chứng trên thực tế. Vậy thời gian, không gian là gì? Có lẽ nó là sản phẩm của thế giới vật chất, của các giác quan, của cái đồng hồ trên điện thoại của chúng ta, của cái đồng hồ đo khoảng  cách trên chiếc xe chúng ta thường vận hành. Tư tưởng ở đâu, vào thời điểm nào, hoàn toàn theo ý nghĩ của chúng ta, nó là một sự thật.

Mục đích của thiền định

Theo lịch sử cũng như hiện nay, tùy theo trường phái hoặc cá nhân, có rất nhiều mục đích khác nhau: cải thiện sức khỏe, coi như một tôn giáo, hiệu ứng đoàn tàu, mong đạt được các khả năng lạ thường, mong cầu thực thể chưa xác định được, nhập vào cơ thể vật lý của mình, rồi chán đời, muốn giải thoát khỏi cuộc sống khó khăn, thích thú vì các hóa chất, dẫn xuất thần kinh như  DOPAMINE, NORADRENALINE vv… tạo cảm giác giống như sử dụng chất say vv…

Tài liệu này có một mục đích hoàn toàn khác.

Nhiều tỷ phú người Mỹ cho là, đến cuộc sống với bàn tay không và ra đi cũng vậy, phần lớn tài sản họ cho các cơ quan từ thiện, chính bản thân cũng như con cái của họ chỉ sử dụng số tiền rất ít.

Tuy nhiên, tài sản tinh thần lại không bao giờ mất. Kiến thức mà chúng ta tích lũy ở nhà trường dùng cả đời. Tài khoản thiền định dùng trong lúc còn sống và càng hữu dụng hơn bao giờ hết, khi chúng ta bỏ thân xác vật lý. Nó giúp ta có kinh nghiệm về cuộc sống ngoài thân xác vật lý, ngay lúc còn đang sinh hoạt bình thường. Đây là một tài sản hoàn toàn có thể mang theo mang mãi mãi, không ai có thể tước đoạt, kể cả Thượng Đế (nếu có). Thực hành thiền định thường xuyên, năng lực này trở thành một bản năng  thứ hai, nó mang tính chất tự động, kích hoạt khi cần thiết. Lúc ngủ say là một thí dụ cụ thể, chúng ta có thể tự động nhập định kể cả khi chúng ta nằm mơ. Năng lượng thiền định do kiên nhẫn, nó đã đi vào tiềm thức, vô ý thức. Nó thực sự là bản năng nhân tạo, giống như chúng ta lái xe, bơi lội, nói ngoại ngữ, vv…

Cần phải có một người thầy.

Hầu hết các tài liệu thiền định đều cho là, muốn thực hành thiền định thì cần thiết phải có một người thầy. Nếu không thì hậu quả khó có thể lường  trước được. Cái khó cho chúng ta là, thực tế lấy cơ sở cụ thể nào để bảo ai đó là thầy  về bộ môn này? Có phải thầy là dựa vào bộ quần áo, vào cơ sở hoành tráng, đồ sộ, có giấy phép và có nhiều thuộc cấp, nhân viên, tín đồ vv… , như vậy là một vị thầy? Còn giáo trình có được cơ quan có thẩm quyền, có năng lực xét duyệt? Rõ ràng thầy chỉ là một chức vị tự xưng, tư phong, vậy chúng ta có nên giao cuộc đời, thân phận của mình cho ai đó, mấy ông Tây gọi là “MOUTON DE PANURGE”, bây giờ gọi là “hiệu ứng đoàn tàu” thì phải. KARL MARX trong tác phẩm “Lời  đầu của góp phần phê phán của triết học Hegel”, ông có viết: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” thuốc phiện để làm gì? “chống lại sự khổ đau hiện thực”. Cái chúng ta cần là một kỹ thuật, một khoa học, một liều thuốc  đưa chúng ta lên một tầm cao mới, chứ không phải là một liều thuốc an thần, giảm đau chữa triệu chứng tạm thời  (TRAITEMENT  SYMPTOMATIQUE).

Thế  kỷ 21, mọi việc đã khác, cái gì cũng có thể “online”,  từ làm việc, học  tập, mua bán, kể cả yêu đương vv… Vấn đề còn lại là lệ thuộc ở chính mình. Xin phép nhắc lại, không thể tiếp cận với một bộ môn chuyên ngành, chính quy bằng thú vui nhẹ nhàng. Giảng sư Lê Tôn Nghiêm cho là, thiên tài 51% là sự đổ mồ hôi, kiên nhẫn, cần cù. Một số phát minh cho là tình cờ, được lịch sử ghi lại, có lẽ đó là sản phẩm tình cảm lãng mãn của quý ngài sử gia.

Tài liệu này không hề có ý định tiếp thị hay dìm hàng bất cứ vấn đề gì hay là ai, mà chỉ tìm cách tìm hiểu, vận dụng những quy luật khách quan của thế giới tự nhiên, để trợ giúp, cải thiện thân phận bi quan triệt để hay bi đát của con người – nói theo Phật giáo hoặc triết học hiện sinh –

Theo huyền sử  thì Sakya Muni, trước khi bỏ lại cơ thể vật lý có nói “ Hiểu biết chân chánh là thầy của mọi người” khi được hỏi “Sau khi ngài nhập niết bàn, ai sẽ là thầy?”

Vấn đề giáo trình hay học thuyết thiền định.

Có lẽ chỉ ở Tây Tạng mới có một giáo trình (không biết nên gọi tên nào cho phù hợp với thực tế, Phật Giáo Tây Tạng, Mật Tông Tây Tạng, Chân Ngôn Tông…) rất chuyên nghiệp, trẻ em được theo học từ khoảng  8 đến 10 tuổi, phần đông là con trai thứ, chứ không phải là con trưởng hay con gái. Đến khoảng 15 tuổi, các em được phân ra làm 3 loại khác nhau gồm có:

            - Thầy tu osin (moines servants)

            - Thầy cúng tế

            - Thầy tu khảo cứu kinh sách

Các môn học được chia làm 2 loại khoa học ( science)

A-    Khoa học thứ yếu (les sciences mineures)

Phát âm, đo lường, nguyên ngữ học (l’ etymologie), ngữ pháp, phối hợp các từ, số học, chiêm tinh học (l’ astrologie) vv…

B-    Khoa học chánh yếu

Chủ nghĩa Phật giáo, Veda, Upanisad, Vedanta, luận lý học, phát âm và văn phạm, y khoa, nghệ thuật, nghệ thuật Thanka, Mandala.

Sau đó vào đại học

Có rất nhiều môn học, những môn cuối cùng là:

            - Prajnaparamita

            - Vinaya

            - Abhiddarma

            - Thiền định

Thời gian học tập khoảng 18 năm, tài liệu bát nhã chẳng hạn, học 4 năm.

Kể từ ngày thuộc về Trung Quốc, không biết giáo trình nói trên có còn tồn tại hay không?

Việc tuyển lựa cũng tương tự như Kito giáo. Thực tế phải kể đến là vấn đề hiệu quả. Từ vật chất cho đến tinh thần, không thấy có thành tích nào được ghi nhận một cách cụ thể rõ ràng. Người ta đồn đại về vị này, vị nọ. Kể cả vị Đại Lạt Ma cũng chẳng thấy gì hơn một người bình thường, có chăng một số người cho đó là một tu sĩ nào đó tái sanh. Tuy nhiên, vấn đề tái sanh còn gọi là TULKU, ở Tây Tạng có thông tin cho đó là quốc nạn ở Tây Tạng, lý do có rất nhiều trẻ em, được gia đình cho là tái sanh làm tê liệt hoạt động xã hội.

Số người tham dự theo học như thế này có cả chục ngàn người.  Tuy nhiên, bộ môn thiền định rất mơ hồ. Có chuyên gia cho là, họ dùng mandala tinh thần làm đối tượng để thiền định. Nếu chúng ta quy ước, có một tác giả là một lạt ma LOBSANG RAMPA, với tác phẩm You Forever, có thể coi như một giáo trình mật tông tóm lược, đã được quần chúng hóa , tác giả hướng dẫn, muốn có một cái “đầu yên lặng” thì tưởng tượng, tứ chi như một buổi tan sở, lần lượt hết tay đến chân. Có thể hiểu đây là một kỹ thuật để nhập định. Vẫn theo tác giả, ở trạng thái định tâm (nhập định) người ta có thể du hành ngoài thân xác vật lý. Có người đã tập theo tài liệu này nhưng không thành công. Còn ở Việt Nam, có những nơi có danh xưng là Viện Hàn Lâm thiền định, họ sử dụng giáo trình nào?

Ở Mỹ cũng có những trường , viện dạy thiền định, thí dụ: VIPASSANA MEDITATION, INTERNATIONAL  MEDITATION, INSIGHT MEDITATION, MINDFULNESS  MEDITATION, vv…. Giá khởi điểm là 299 đô.

Nghe những danh xưng như thế này, thì có vẻ thiền định của các cơ sở này thuộc trường phái Sakya Muni. Tuy nhiên, đứng ở góc khảo cứu, học thuật thì có nhiều chuyên gia cho là, minh sát tuệ VIPASSANA là tài liệu ngụy tạo! đi xa hơn nữa, những tài liệu mà hôm nay chúng ta sử dụng cho là của một tác giả nào đó, đều sai hoàn toàn với sự thật lịch sử. Xin phép quý độc giả việc nhắc lại thông tin ở trên.

Nước Mỹ ngày hôm nay, được coi là cái nôi của khoa học, vậy mà bộ môn thiền định có thể hiện hữu, không hề có một cơ sở đáng tin cậy nào bảo đảm tính chất hiệu quả và an toàn cho người sử dụng. Một đất nước đầy rẫy luật pháp, kiện cáo, thế nhưng thiền định có thể đứng trên cả khoa học và luật pháp, mặc tình thao túng thị trường tinh thần của trên 331 triệu người dân.

Nói tóm lại, thiền định là một thị trường hoàn toàn bỏ ngõ, thả nổi. Chúng ta chấp nhận như là một hiện trạng.

 

 còn tiếp)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 25/8/2020