Con mắt thứ ba - DẪN NHẬP VỀ THIỀN ĐỊNH(39)

                         DẪN NHẬP VỀ THIỀN ĐỊNH

 

                                             “ Chú tâm vào một vật duy nhất “…

           có thật  sự là” chân ngôn” khả thi của người thực hành thiền định

 

Tam tiểu thư:
                         Ông tổng quản à! Tôi là một trong những người thưc hành thiền đinh, sử dụng chân ngôn truyền thống “ chú tâm vào một vật duy nhất” để nhập định. Tuy nhiên, tôi cũng như nhiều quí đọc giả, đều nhận thấy, có gì đó không ổn như người ta đã tin tưởng qua nhiều ngàn năm, cùng với lịch sử của bộ môn thiền định. Ông thử xem cuốn” tạp thư”  một loại niên giám ALMANACH) mua ở chợ trời, có thông gì về vấn đề này  không?
Ông tổng quản:
                           Trước khi tìm hiểu thông tin từ cuốn tạp thư, cũng nên biết qua về lịch sử của chân ngôn nói trên.
      - Chân ngôn này đã được ghi lại từ thủa tài liệu Vệ Đà,không ai biết rõ là bao nhiêu ngàn năm. Sau đó những tài liệu của RAJA YOGA và tài liệu của trường phái SAKYA MUNI đều ghi lại gần như toàn văn công thức chân ngôn nói trên  “ chú tâm vào một vật duy nhất”. Theo như tài liệu luận giải thích, tâm lý con người do dục vọng nên luôn luôn giao động, không đứng im, tỉnh táo. Do đó,khi  sử dụng phát biểu nói trên thì tâm sẽ đứng im, tỉnh táo, gọi là định tâm, còn gọi là nhập định.
Tam tiếu thư:
                          Nói vậy,nhưng tôi và có lẽ cũng có nhiều quí đọc giả có sử dụng, nhưng có đi vào trạng thái nhập định đâu?
      - Theo thông tin từ cuốn tạp thư, thì tại sao chân ngôn này không “ linh “ vậy?, có phải tại không giữ giới nên nó không linh?
Ông tổng quản:
                           Có lẽ đại đa số quí đọc giả thưc hành thiền định, thích thú về chương lộ trình của tâm (CITTA VITHI ) với cách phân tích hợp lý, tinh vi, có hệ thống… ngay cả tâm lý học hiện đại cũng không có một tài liệu nào, có một chương tương tự.Một câu hỏi có thể đặt ra,ở thời điểm cách đây cả ngàn năm, mà người ta có thể làm được việc này? Một giả thuyết, phải chăng đây là cái nhận biết về luồng tâm lý của một người đang nhập định. Những nhà tâm lý học hiện đại có nhập định được đâu, nên làm sao biết được điều này!
         -  Thực tế, chân ngôn nói trên, cũng như chương luồng tâm thức, lại không giúp được cho ai đó - dùng  nó như một công cụ để nhập định-, thậm chí là phản tác dụng! dù cho họ có thuộc lòng , cũng chưa thấy ai nhập được định.
Tam tiểu thư:
                          Không lẽ bó tay sao?
Ông tổng quản:
                          - Tâm lý học có thể là phao cứu sinh cho những gì nói trên: “ chú tâm vào một vật duy nhất “, chương “ luồng tâm thưc”
         - Vào năm 1879, người sáng lập ra tâm lý học WILHEIM WUNDT,” phương pháp xem xét nội tâm”, các trường phái sau này nhiều vô số.
           Ở đây, chúng ta chỉ vận dụng những gì tâm lý hoc thực tế, có thể giúp sức cho những phát biểu trên, trở nên có thể hiểu được và thực dụng.
      Vâng, có lẽ rất nhiều đọc giả rất kiên nhẫn thực hiện việc “ chú tâm vào một vật duy nhất”, với hy vong nhập định được.Nhưng càng cố gắng, thời gian càng lâu, lại càng “ loạn tâm”. Đành tìm thày nhờ giúp cách này, cách nọ. Nào đổi đề tài, đối tượng, công án… thật sự chẳng có gì thay đổi!, hy vọng vẫn chỉ là hy vọng.
Kính thưa quí đọc giả.
                                        Theo tâm lý học,câu “ chú tâm…”,có hai vấn đề nên hiểu rõ:
1- Vấn đề chú tâm , hay chú Ý: ( ATTENTION)
2 – Vật duy nhất,- hay đúng hơn- hình ảnh của vật duy nhất ( IMAGE )

         - Nào, chúng ta bắt đầu với việc” chú tâm”:
      Chú tâm là tập trung nghị lực của mình, hướng về một đối tượng nhất định, đó là định nghĩa khá phổ thông của tâm lý học kinh viện.
      Muốn thực hiện điều này, phải lưu ý đến rất nhiều qui luật của tâm lý học.Thực tế,nếu không tuân thủ, sẽ không chú tâm, chú ý được. Có lẽ chính vì lý do này mà chân ngôn “ chú tâm…duy nhất” không dùng đươc trong nhiều ngàn năm.
      Muốn chú tâm phải có nhiều đối tượng ( POLY IDEISME ), vì chỉ một đối tượng,không cần chú ý và cảm thấy chán ngay (MONOIDEISME). Muốn chú ý một cái gì đó, thì phải lục soát nhiều thứ khác, tâm lý học gọi là chú ý lần lượt hoặc phân phối ( ATTENTION ALTERNATE), việc này tạo ra loại chú ý đợi chờ ( ATTENTION EXPECTAN ). Chính các MANDALA của Tây Tạng thuộc về dạng này, rất nổi tiếng vì tính chất hiệu quả. Tại sao chú ý đợi chờ lại thu hút sự chú ý? Vì sự chú tâm này chưa có đối tượng. Nó bắt chúng ta phải chú ý liên tục để tìm kiếm đối tượng. Do đó, làm cho tâm trí chúng ta phải căng thẳng, tiêu tốn rất nhiều năng lượng, tâm lý bị áp lực đè nặng, song song là phản ứng về sinh lý: áp huyết, nhịp tim, hô hấp, thần kinh v.v…nó giống như một vở kịch, đợi chờ hồi kết thúc - ở một bản nhạc là note tonique-

     -Luật đào thải ( LOI DE SELECTION ), chúng ta chú ý vì thích, ta thích cái gì thì chú ý về cái đó, không chú ý cái khác.
      -Luật lợi ích : RIBOT cho rằng, ta chú ý vì lợi ích làm bá chủ ( INTEREJ DOMINANT ),có lợi cho mình thì ta chú ý.
Chú ý hồi cố ( ATTENTION REFLECHIE ): Trong thiền định là chú ý hồi cố một hình ảnh nào đó: 1 cục đất,ly nước, 1 chấm màu nào đó…Đây lại là một vấn đề hết sức phức tạp về tâm lý học. Ta cố gắng duy trì một hình ảnh nào đó: 1 vị cao cả, 1 bông hoa…nhưng việc này không làm được! tại sao?
      -Hình ảnh ( IMAGE ) là cặn bã của cảm giác ( SENSATION). Nó nghèo nàn, yếu ớt…nên tuổi thọ rất ngắn.
      -LOIN DES YEUX LOIN DU COEUR  ( Xa mặt cách lòng ).
      -Cảm giác dễ dàng xâm lấn hình ảnh của các loại giác quan, trên sân khấu ý thức. Đó là lý do, tại  sao chúng ta khó có thể nhập định, khi ngồi trước 1 cái TV đang hoạt động. Hình ảnh còn bị rất nhiều định luật tâm lý khác chi phối, nên rất khó tồn tại, dù ta cố gắng duy trì nó.Ở đây chúng ta kể sơ qua 2 định luật làm khổ những người thực hành thiền định. Trước nhất, phải kể đến bản năng tình dục, theo trường phái Tâm động học ( PSYCHODYNAMIC), căn cứ vào định luật số 1 và số 2 của nhiệt động học  (THERMODYNAMIC) thì “ LIBIDO” sẽ xuất hiện với tất cả sức mạnh của nó, khi ý thức tỏ ra yếu đuối.                               Chính vì lý do này, người thưc hành thiền định, dù nam hay nữ, đều có nhu cầu tình dục lúc sắp nhập định ( chắc quí đọc giả còn nhớ đối thủ của thiền định là: sân hận, tham dục...)
        -Còn một định luật tâm lý nữa,  giải thích tại sao chúng ta rất khó duy trì công án. Hiện tượng đó gọi là hồi cố phản ý, nhớ lại dù mình không mong muốn ( RAPPEL MALGRE NOUS ). Ta bị hình ảnh của các loại giác quan xuất hiện tấn công tới tấp.

Tam tiểu thư:
                         Vậy phải làm sao?
Ông tổng quản:
                           Thực tế là các tu sĩ Tây Tạng rất nổi tiếng. Vì sao? - vì đàn pháp MANDALA tây tạng vô tình đáp ứng rất nhiều các yêu cầu của định luật tâm lý học ( đó là chưa kể đến mặt trái là : tha lực…,những thực thể không xác định được ( UNIDENTIFIED  ENTITY)
      - MANDALA tạo ra chú ý đợi chờ ( ATTENTION EXPECTANTE ) vì chưa có đối tượng, diễn tiến của đàn pháp là chú ý lựa chọn ( ATTENTION  ELECTIVE ), đòi hỏi chú ý ý chí cao  ( ATTENTION VOLITIVE) nên khả năng duy trì chú ý nội quan cao ( ATTENTION INTERIOR ), mặt khác , còn nhờ vàochú ý  lần lượt, hoặc phân phối ( ATTENTION DISTRIBUTIVE)
      - Đây là mô hình rất đáng quan tâm. Ai cũng có thể lấy cảm hứng từ đây, để tạo ra một đối tượng phù hợp với mình nhất. Thí dụ làm những bài toán nhẩm có hình ảnh cụ thể.
      Không có gì có thể xuất hiện từ hư vô, sáng tác chỉ là sự nhớ lại ( REMINISCENT )
Tam tiêu thư:
                        À! Tôi nhớ ra rồi, hình như có một vị là giảng viên đại học ở Tân Tây Lan, triển khai ý nghĩa này thành công thì phải. Có lẽ cũng nên thử, vì chẳng ai đánh thuế về việc thực hành thiền định cả!
Tam tiểu thư (nói tiếp):
                                         Tôi còn một câu hỏi cuối cùng, tại sao lại xẩy ra hiện tượng hồi cố phản ý (RAPPEL MALGRE NOUS) mà bất cứ ai thực hành thiền định cũng gặp phải, liệu tâm lý học có thể giải thích?
 Ông tổng quản:
                             Theo trường phái Tâm động học, có thể giải thích  như thế này: Năng lượng tâm lý không thể biến mất vào hư vô, giả thuyết tâm lý chúng ta, chủ thể tâm lý (SUJET PSYCHOLOGIQUE) là một hệ đóng kín, thì ENTROPY không thay đổi. Nói một cách dân gian, thì hình ảnh của các giác quan, buộc sẽ xuất hiện ở dạng này, dạng khác, lúc này, lúc khác…đây là một cơ chế cơ học không thể tránh được.
Theo trường phái phân tâm học, thì đây là sự giải thoát ẩn ức (DEFOULEMENT) những gì bị dồn nén (REFOULEMENT ).
          - Con người là 1 sinh vật có đầy dẫy những mặc cảm bẩm sinh nổi tiếng, mà quí đọc giả nào cũng biết.Xin phép nhắc lại: - mặc cảm thiến hoạn ( COMPLEXE DE CASTRATION )
                                         -mặc cảm yêu mẹ, ghét cha ( COMPLEX D’OEDIPE )
                                         -  mặc cảm yêu cha, ghét mẹ v.v… ( COMPLEXE D’ ELECTRE )
      - Bản năng cái tôi thôi thúc chúng ta thỏa nãm những gì mình ưa thích, mong muốn…Thực tế cuộc sống dạy cho ta phải biết tiết chế để tồn tại trong xã hội loài người. Tuy nhiên cái tôi tâm lý vẫn cứ tiếp tục làm công việc của mình như đã nói ở trên. Tạm gác lại những nhu cầu và chấp nhận cuộc sống như nó vốn có.
         - Từ đây phát sinh ra một cuôc trang chấp ( CONFLIT ), cuộc tranh chấp là nguồn gốc của sự dồn nén, ẩn ức. Chính viêc giải thoát ẩn ức đã tạo ra hiệu ứng hồi cố phản ý như đã nói ở trên.
        - Tâm lý học còn được hiểu như là một khoa học mô tả ( SCIENCE  DESCRIPTIVE ).Do đó, hiểu được sự cấu tạo và vận hành của chủ thể tâm lý, chúng ta có lẽ phần nào làm chủ được chính mình, nhiều khả năng thực hành thiền định hiệu quả hơn, tích cực hơn.

GHI CHÚ : Đây là một bài viết, khảo cứu của cá nhân, không phản ảnh quan điểm của khoa học hiên đại, quan điểm của trang WEB.
      - Khoa học cần sự chính xác cao nhất có thể, để tránh sự mơ hồ và ngộ nhận.Do đó, bài viết này buộc lòng phải sử dụng rất nhiều từ ngữ chuyên ngành của các bộ môn khoa học bằng ngoại ngữ.
Kính mong quí đọc giả thứ lỗi.

 

BÚT DANH :  MÔT CỘNG TÁC VIÊN

( Đăng ngày : 07 .08.2019 )