Con mắt thứ ba - DẪN NHẬP VỀ THIỀN ĐỊNH(34)

 

Thiền định: con đường OFF ROAD khó đi quí vị ơi!

Tam tiều thư:   

Này ông tổng quản! thời buổi của công nghệ thông tin phủ sóng khắp nơi, mình làm nghề” bảo tiêu” lang thang ở nơi rừng sâu, núi thẳm nên quá date, đầu đề của bài viết này e là quá lạc hậu ! tầm cỡ như cựu thổng thống siêu cường BILL CLINON, danh ca Việt Nam, cho đến…đều thiền định, tôi thấy  một nước nào đó, ở Đông Nam Á,  còn có cả Viện Hàn Lâm ( ACADEMY ) về thiền định.Tôi còn nhớ, khi học ở trường làng DAKLAK, có nghe các vị giáo viên nói là  ACADEMIE( Viện Hàn Lâm) là nơi qui tụ chính xác là các nhà bác học (SAVANT) đầu ngành, để tiêu chuẩn hóa và đặt ra các luật lệ cho một bộ môn nào đó. Do đó, thiền định mà có được viện hàn lâm thế quả  thật là một thành quả phi thường của bộ môn thiền định, đáng kinh ngạc.

Ông Tổng Quản:

Theo văn hóa tiếng Anh hay nói  “  còn quá sớm để…hãy đợi và xem” .Thật vậy, bộ môn thiền định có những khó khăn rất bản chất  chưa giải quyết được . Cụ thể là người ta  không thống nhất được với nhau  về lý thuyết và chủ thuyết( THEORIE – DOCTRINE), vậy thì làm sao thực hành và nhằm mục đích gì ? mỗi vị thầy lại có một học thuyết khác nhau .Tất nhiên, ai cũng cho là mình đúng thì mới theo, còn người khác đương nhiên là không đúng !

Lịch sử văn minh của nhân loại nói chung, thì có một chủ thuyết nào đó , rồi sau đó sanh ra các hệ phái không phải là lạ.Tuy nhiên, để có “đột biến” tích cực không phải là một việc dễ. Thí dụ mà ai cũng biết, từ việc phát hiện ra lực tương tác hấp dẫn, cho đến việc phát hiện ra “ hố đen”cách nhau mấy trăm năm ! Nhưng  mọi việc không phải như vậy .Từ tìm ra trụ sinh  PENICILIN vào năm 1928 cho đến nay, cũng chưa tìm được một loại trụ sinh nào hoàn toàn  mới cả !

Bộ môn thiền định có lẽ kém may mắn nhất ! Thực tế, có lẽ chính quí ngài SAKYA  MUNI  đã làm cho bộ môn thiền định   trở nên nổi tiếng , vì chính nhờ vào công cụ này , quí ngài đã  phát biểu rất nhiều định luật của thế giới tự nhiên , thí dụ như: định luật tương ưng, sanh diệt, nhân quả ( xác định lại khái niệm này đã có từ trước thời SAKYA   MUNI)vv…

Tam thiểu thư:

Ông nói có lẽ đúng.Thật vậy, sau khi ngài SAKYA  MUNI mất đi , thì bộ môn  này không có một thành tích nào thực tế cả.Từ xuất phát là kinh nghiệm thực tế, đến việc tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng , rồi phát biểu các định luật.Thời gian hậu SAKYA    MUNI  lại rơi vào tranh luận  để xây dựng các lý thuyết  không tưởng ( UTOPIC) đặc biệt là ở Trung Quốc thí dụ cụ thể là “ một người bình thường , khởi  lên một niệm tu , tức khắc thành phật “ chúng ta thuyết minh theo đời thường  cho nó dễ hiểu .Thí dụ khác” bản chất con người là có chất liệu  phật. Do đó…”chắc quí độc giả cũng nhận biết  ngay đây là những tiêu đề đầy tính chất lãng mạn, Phiêu lưu…

Thế này thì phải làm sao  nhỉ?  “ con có vẻ khôn hơn cha…” có lẽ chúng ta không có  phước.

Ông Tổng Quản.

Có ai đó bảo”  không  có cái gì có thể cao hơn sự thật” .Có lẽ học thuyết của SAKYA  MUNI  đã mô tả đúng sự thật của thế giới tự nhiên . Nhờ vào công cụ thiền định , Bản thân ngài SAKYA  MUNI đã thực hành kỹ thuật này cho đến chết, tập luyện bộ môn này liên tục  trong nhiều thập kỷ.

Tam Tiểu Thư.

Có lẽ bộ môn  này có cái gì  khó khăn lắm thì phải .Ở cuộc sống đời thường ,  người ta theo học một cái gì đó chuyên ngành, bình thường mất dưới 10năm là có bằng PH.D chưa kể tập huấn  để cập nhật kiến thức .

Ông thử xem cuốn tạp thư khó ở chỗ nào ?

Ông Tổng Quản .

Theo thông tin từ cuốn “tạp thư”  thì học thuyết của SAKYA   MUNI   cho biết . Để hiểu được cái khó của  việc thiền định thì cần có sự hiểu biết,  ít nhất về 2 vấn đề cơ bản sau đây.

1-   Cấu tạo của 1 chúng sanh  bất kỳ

2-   Vấn đề cảnh giới, cách phân biệt cảnh giới tối thiểu để hiểu về hiện trạng của mình .Nếu hiểu được 2 vấn đề nói trên , chúng ta sẽ vỡ lẽ , tại sao nhập định lại khó đến như vậy và không ngạc nhiên về nhập định khó lắm  là việc tất nhiên, chính quí vị nào cho là dễ mới  là lạ .Từ hiểu được bản chất của cái khó khăn đến việc  giải quyết khó khăn  lại là 1 khoảng cách rất xa.Vâng, có thể nhiều kiếp( nếu có nhiều kiếp), không giải quyết được , vì nó vượt qua trí tuệ  bình thường  của con người .Có thể có quí vị độc giả , đã thiền định nhiều năm nhận biết điều này .Thật vậy, quí vị cố gắng hết sức , chuyên cần, chịu khó,vv… nhưng kết quả là nhiều năm không nhập định được ! Suy nghĩ mãi chẳng biết tại sao? Thôi đành đổ cho” phước mỏng, nghiệp dày”!

Tam Tiểu Thư.

Mong ông chấm dứt tự dọa chính mình ! làm tôi rất sợ hãi

Ông Tổng Quản.

Chúng ta phải chấp nhận những hiện tượng của thế giới tự nhiên  khách quan. không phải là vấn đề duy tâm hay duy vật, mà vấn đề là chúng ta biết  vận dụng những định luật khách quan của thế giới tự nhiên phục vụ cho chính mình.

Không có cuộc cách mạng nào  lại không có mất mát. Khi phải chấp nhận hệ nhật tâm, trái đất xoay xung quanh mặt trời.Sự thật Thánh kinh đã mất đi một phần linh hồn của mình .Vâng, giáo dục phổ thông đều cho biết, não bộ chia ra từng vùng , phụ trách rất chuyên biệt : nhìn, hiểu, tiếng nói,cử động , trí nhớ vv…nói tóm lại não bộ và tâm lý , tinh thần không thể tách rời  là điều hiển nhiên .Tuy nhiên, ngày hôm nay không ai lạ gì về việc đầu thai , cận tử… có quá nhiều trường hợp không thể phủ nhận tính chất xác thực và hiển nhiên , ít nhất hiện tại khoa học không có cách nào giải thích được. Người cận tử nhớ và kể lại những gì mình nhìn và nghe trong lúc được tuyên bố là đã chết,  thậm chí ở nhà xác chuẩn bị làm AUTOPSIE ( giải phẫu khám nghiệm tử thi). Chúng ta tự  hỏi, vậy lúc chết thì nhìn, nghe, hiểu , nhớ,…nằm ở đâu (cơ thể  vật lý đã chết ). Những người tái sinh kể lại kiếp trước , nhớ lại …vậy lúc chết khả năng nhớ nằm ở đâu? Từ đó có thể suy ra , hình như có một cơ thể khác làm các thao tác về tâm lý .Vậy thì não bộ có lẽ chỉ là chất xúc tác.

Tam Tiểu thư.

-Tôi thấy kiến thức này tuy là có vẻ “ phi khoa học” nhưng không thể bảo phi lý , mà hình như nó là bản chất của hiện tượng tư nhiên .Thật vậy , người cận tử , hiện tượng đầu thai đều có mẫu số chung …họ kể lại những việc có thật mà lúc đó vắng  bóng của cơ thể vật lý là yếu tố cần chứ không phải  đủ thì phải?

-Cho dù tôi công nhận thì nó nói lên cái gì nhỉ?

Ông Tổng Quản.

-Nếu công nhận hệ quả này, nó nói lên cái nguyên nhân là việc cấu tạo nên cái “tôi “ của tôi và của quí vị độc giả. Rất mong quí độc giả nhớ lại trường hợp “ thay đổi ý thức “ của đại tá  CHARLES     LINDBERGH trong bài trước .Qúi ngài này chỉ là một người Mỹ bình thường , không tu thiền bao giờ và cũng chẳng đọc vi diệu pháp bao giờ .Trường hợp “ bị nhập định” là hoàn toàn tình cờ , ngoài ý muốn .

-Nói tóm lại, chúng ta thấy, qua những dẫn chứng nêu trên , dường như con người, là sự kết hợp theo một định luật  nào đó  khách quan , gồm nhiều thành phần .

Tam Tiểu thư.

Hèn chi dân gian họ bảo có” 3 hồn 7 vía” chắc có lý do nào đó  hoặc sợ đến “ hồn phi, phách tán” “ sợ mất hồn” . Cô Kiều thì cho là “ hồn “có thể sinh hoạt hoàn toàn độc lập, ngoài cơ thể  vật lý

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

Nợ tình chưa trả cho ai

Mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

Ủa! mà việc này thì liên quan gì đến việc  nhập định được hay không được ?

Ông Tổng  Quản.

Nếu chúng ta công nhận một cá thể chúng sanh bất kỳ, là sự kết hợp của nhiều thành phần , thì việc tiếp theo là , qui luật nào , định luật nào đã tạo ra sự hấp dẫn giữa các thành phần ? Theo học thuyết vi diệu pháp thì cho đó là định luật tương ứng, tương thích với nhau .Cụ thể là 3 yếu tố :

1-   Vật chất( sắc)

2-   Tinh thần( tâm)

3-   Nghiệp lực ( năng lượng)

Tạo ra một số lượng mô hình không thể đếm được mà chủ nhân ông là linh hồn , là tôi .Sự kết hợp này khác nhau về số lượng và chất lượng. Do đó, không ai giống ai từ vật chất đến tinh thần. Nhưng những yếu tố cơ bản tạo ra những loại chúng sanh giống nhau hoặc khác nhau . Cụ thể bẩm sinh sức khỏe tốt , bẩm sinh thích thể thao , có năng khiếu toán , sinh ngữ,sinh học , vv…Mặt khác ,tinh thần (tâm) và vật chất (sắc) cùng kết hợp với nhau do tương ưng , tương thích , phải có một tỉ lệ nào đó thích hợp về số lượng cũng như chất lượng . Sự kết hợp này lâu dài và bền bỉ, vì đó là định luật của thế giới khách quan tự nhiên, chỉ chấm dứt khi chết, đôi khi đột xuất tạm thời không kết hợp, đó chỉ là tạm thời.

Tam Tiểu Thư.

Vậy thì thiền định là làm cái gì, đối với một cơ thể của một chúng sanh nào đó có nhiều thành phần như đã nói ở trên ? ( tất nhiên là với điều kiện chúng ta công nhận, qui ước mặc định, một cơ thể có nhiều thành phần)

Ông Tổng Quản.

Nếu chúng ta mặc định như vậy , thì sẽ đưa đến hai hệ quả , chúng ta có thể kiểm chứng thực tế trong lúc nhập định và có thể giải thích được các hiện tượng trong lúc nhập định , sao lại quá đa dạng?

1-   Chúng ta hiểu tại sao nhập định lại  khó khăn vậy?

2-   Mỗi khi nhập định lại có khó khăn khác nhau ( giống như siêu vi –virus – hay biến thể).

Nếu nhập định được lại ở vào các tình trạng khác nhau , không bao giờ giống nhau .Tại sao lạ vậy? hiểu đươc bản chất , chúng ta có cơ sở đáng tin cậy , để giải thích cho chính mình , nếu không chúng ta rất hoang mang chẳng biết hỏi ai ! vì người trả lời, có cơ sở gì để tin là họ thực sự hiểu biết vấn đề ?

Tam tiểu thư.

Ông thử nói rõ hơn , cũ thể hơn , minh họa cho dễ hiểu .

Ông Tổng Quản.

Trong thế giới chúng ta đang sinh hoạt, ai cũng biết có 4 lực tương tác .Tương tự như vậy,  các thành phần của một ai đó cũng có lực hấp dẫn để giữ chúng ta cùng tồn tại trong một cơ thể .Theo học thuyết vi diệu pháp thì đó là luật tương ưng. Bình thường thì tâm và sắc ( tinh thần, vật chất) gắn kết với nhau cho đến khi chúng ta chết, bình dân gọi là “ hồn” lìa khỏi “ xác”. Tuy nhiên, trong đời sống bình thường , cũng có lúc 2 thành phần này tạm thời tách rời nhau ra , sau đó lại kết hợp lại với nhau. Khi nào thì  rời nhau ra ? Khi định luật tương ưng bị vi phạm dù là ở phía bên nào , thí dụ thực tế  đời thường  mà ai cũng gặp .

A.Yếu Tố Sắc

1- Sắc là tác nhân tạo ra hồn lìa khỏi xác, cơ thể vật lý quá mêt mỏi , ngủ để phục hồi lại yếu tố sắc. Do đó, ngủ là cơ chế bắt buộc

2-Cơ thể vật lý bị bệnh nặng , các yếu tố sắc thu hẹp lại , hồn tạm lìa khỏi xác . Do đó ta mê đi, từ ít đến nhiều vv…

3-   Sử dụng chất say , hóa chất( ngộ độc vật lý) làm tổn hại các yếu tố sắc. Ta mê đi tạm thời , quá 1 giới hạn nào đó yếu tố sắc  không phục hồi lại được , hồn tách hẳn ra , ta gọi là chết.

4-   Còn nhiều trường hợp khác,vv…

B. Yếu Tố Tâm

1-Tâm lý quá vui, quá buồn, quá sợ hãi vv…đều làm cho tâm tách ra khỏi xác vật lý .Vì định luật tương ưng bị phá vỡ . Cấu tạo tâm không còn tương ưng với cấu tạo sắc.vv…

2-Lúc ngủ cấu tạo tâm ít nhiều có biến đổi . Do đó , hồn tạm thời lìa khỏi xác, hồn lang thang vô định , ta gọi là nằm mơ ( điện não đồ phản ánh điều này)

3-Lúc cận tử , lúc chết là do cơ thể vật lý quá  hư hỏng , do đó , tâm hay hồn vẫn bình thường nhưng  không có cơ thể vật lý để gắn kết .Tôi vẫn là tôi về tâm  lý .Sự thật này chúng ta có thể tìm thấy ở các trường hợp cận tử điển hình nhiều vô kể, có khi là của chính quí độc giả.

4-Thiền định.

-         Là 1 hiện tượng đặc biệt , hiện tượng nhân tạo , do con người ta tạo ra  có chủ ý . Con người là 1 “ TITAN” nếu có 1 thượng đế . Đó là một con người nổi loạn chống lại đấng  toàn năng. Theo lịch sử của bộ môn thiền định , thì có lẽ con người tình cờ phát hiện ra kỹ thuật thiền định , ngoài dự tính của thượng đế lúc chế tác ra loài người .

-         Như những phần trên đã trình bày , con người là sự gắn kết của nhiều bộ phận một cách hài hòa , mặc định cho thấy định luật tương ưng hiện hữu, bình dân mà nói “ nồi nào ,vung nấy” .Văn hóa của Pháp “ TEL  ARBRE   TEL  FRUIT  - TEL  AUTEUR,  TEL  LIVRE    LES  CHIENS  NE  FONT PAS  DES  CHATS- TEL  PERE  , TEL FILS….”Văn hóa Anh “ LKE  FATHER LIKE  SON” ở đâu người ta cũng thấy những thành ngữ  mô tả định luật tương ưng. Có thể xuất phát từ định luật tương ưng , mà từ xưa người ta đã đưa ra công thức” môn đăng hộ đối”  để đảm bảo sự gắn kết lâu dài của một cặp vợ chồng , đơn vị hay tế bào cơ bản của  1 xã hội nào đó . Nếu hiểu như vậy thì , định luật tương ưng là cần thiết ,  bảo đảm tính chất ổn định cần có của một chúng sanh nào đó . Thật vậy, sợ quá có thể làm chết người , cơ thể vật lý hư hỏng quá ( do tai nạn, do bịnh…)cũng đưa tới cái chết không thể cứu vãn .Tóm lại, sự tương ưng giữa sắc và tâm là cần thiết cho sự sống còn của 1 ai đó ở cuộc đời thường , cuộc sống thế gian

Tam Tiểu Thư.

Lúc thiền định thì người ta làm cái gì ? và nghe nói là khó nhập định .Vậy tại sao lại khó?

Ông Tổng Quản.

-         Các trường phái chuyên nghiệp trước và sau thời Sakya Muni  đều sử dụng công thức” chú tâm vào một vật duy nhất” . Các trường phái thôi miên  Âu Mỹ cũng dùng một nguyên tắc tương  tự, có thể là hình ảnh , có thể là lời nói kiểu chân ngôn ( MANTRA) .Từ ngữ của bộ môn thôi miên gọi là  dẫn dụ bằng lời nói ( SUGGESTION  VERBALE)

Thao tác kỹ thuật này ảnh hưởng , tác động như thế nào đến 1 cá nhân  nào đó ?

-Như đã nhiều lấn nói tới ở những bài trước . Con người là sự kết hợp của nhiều thành phần .Việc kết hợp tuân theo 1 qui luật  gọi là luật  tương ưng. Cụ thể là số lượng  tâm và sắc phải phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng, còn tùy thuộc vào sức mạnh của nghiệp lực, một loại năng lượng rất cần phải quan tâm. May , rủi không phải là ngẫu nhiên tất cả là sự biểu hiện của năng lượng nghiệp.

Khi chúng ta chú tâm vào một cái gì đó liên tục , mạnh mẽ,quyết liệt… thì cấu tạo tâm của chúng ta có sự thay đổi lớn xáo trộn dữ dội … rất dễ hiểu như sau , chú tâm thì làm triệt tiêu tâm nghĩ lung tung gọi là “phóng  tâm”. Chú tâm cần phải có sự mong muốn , ham muốn ,từ 1 dục vọng thấp hèn ở cõi dục giới nay cải biến thành sự ham muốn thăng hoa của thiền định . Mặt khác , ngoài chất lượng còn thay đổi về số lượng. Chú tâm của thiền định làm cho cấu tạo tâm thu hẹp lại.Từ số lượng tâm của dục giới là cả trăm tâm này chỉ còn vài chục, kể cả tâm chính và tâm phụ ( gọi là tâm vương  và tâm sở).

Nếu qui trình nhập định được thực hiện đầy đủ gồm: Tầm , tứ, nhứt tâm , hỉ , lạc.( điều này rất khó thực hiện ) thì” hồn” sẽ lìa khỏi xác một cách cơ học. Đây chính là bản chất cơ học của nhập định tại sao lại vậy? Xin thưa, định luật tương ưng của sắc và tâm  đã bị chủ động phá vỡ một cách nhân tạo .(  chi tiết xin vui lòng tìm hiểu tài liệu vi diệu pháp)

Tam Tiểu Thư.

Thế này thì dễ quá, ai cũng có khả năng nhập định  được! Chỉ cần thực hiện đúng qui trình thì mọi việc OK hết phải không quí vị? Ủa?mà sao dễ như vậy  lại không thấy ai thành phật , thành tiên, thành thánh cả? mà chỉ thấy thành  hoa hậu, hoa khôi …thì nhiều vô số kể.

Ổng Tổng  Quản.

-Thực tế chất liệu keo kết dính giữa tâm và sắc rất chắc chắn bền bỉ…mặt khác , còn phải kể đến sự hỗ trợ  vô hình của nghiệp lực nữa. Đạm Tiên đã nói như sau với Kiều muốn tách tâm và sắc.

“… Rỉ rằng nhân quả dở dang

Đã toan trốn nợ đoạn trường  được sao?

Số còn nặng nghiệp má đào

Người đà muốn quyết trời nào đã cho

Hãy xin hết kiếp liễu bồ

 Sông Tiền đường sẽ hẹn hò về sau…

Tam Tiểu Thư.

-Xem ra việc làm thay đổi cấu tạo tâm , để tạo ta trạng thái nhập định có vẻ nói thì dễ , nhưng thực hiện có vẻ khó thật ! hèn chi, người ta bảo” non song có thể đổi, bản tánh khó rời” có lẽ cũng đúng.

-Dù sao cũng nên tích cực, cố gắng. Biết đâu  “ xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”

- À ! còn vấn đề cảnh giới thì sao ? đặc biệt là cho môn thiền định .

Ông Tổng Quản.

-Cảnh giới, cõi, các  tầng thiền … là những khái niện hoàn toàn xa lạ với khoa học hiện đại . Dù có trí tưởng tượng thiên tài và phong phú cũng không thể nào  hình dung ra được cảnh giới là cái gì !

-Đây là đặc sản của bộ môn thiền định , chỉ có người đắc thiền , thực chứng mới nhận biết được một phần nào về cảnh giới. Tuy nhiên , ngày hôm nay nhờ thông tin đại chúng , rất nhiều người được biết người cận tử , kể lại về những gì sau khi họ được tuyên bố là đã chết . Phần đông cảm nhận dễ chịu , nhẹ nhàng hơn  là khi đang sống , tự do hơn, khi không có cơ thể vật lý .Về mặt tinh thần , thấy hạnh phúc hơn , nhiều người không muốn quay lại  cơ thể vật lý của chính mình , họ cảm thấy mình thông minh hơn lúc sống  , hiểu được những việc mà lúc sống bình thường không hiểu được. Nói tóm lại, kinh nghiệm cận tử nói lên một phần  nào , về vấn đề cảnh giới  mà người thiền  định đạt được.

-Tưởng cũng nên nhắc lại vấn đề  cận tử. Ngày hôm nay có hai dư luận khác nhau về vấn đề này . Bỏ qua tranh luận , có một thực tế là những trường hợp hiển nhiên không thể giải thích bằng cách nào được. Đối với loại vừa kể thì khoa học thả nổi.Tại Mỹ có tới  8 triệu trường hợp cận tử được ghi nhận .

Tam Tiểu Thư.

-Cứ cho là cảnh giới , cõi  vv…là có thật, thì nó là cái gì nhỉ?

Ông Tổng Quản.

-Bỏ qua vấn đề lý thuyết khá khó hiểu , chúng ta có thể mô tả  một số mô hình thực tế như sau :

-“ Cảnh do tâm biến hiện – tâm  tạo tác  tất cả “

“ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ “ -Kiều-

-Tâm lý của chúng ta ra sao , thì không gian chúng ta đang sống sẽ là vậy. Người tu thiền nỗ lực để tạo ra một cảnh giới theo lý tưởng của mình đặt ra. Khi tu thiền cũng như lúc chết đi sẽ hiện hữu tại cảnh giới đó. Mỗi người có một cảnh giới lý tưởng khác nhau .Cũng vậy, mỗi trường phái cũng có các loại cảnh giới khác nhau .Do đó, có thể nói cảnh giới là 1 con số không thể đếm được.

Tam Tiểu Thư.

Có trường phái nào, đưa ra một khung tham khảo nào cụ thể hơn không ? phần trình bày ở trên quá mơ hồ  khó hiểu.

Ông Tổng Quản.

Trong một bài viết không chuyên ngành,  chúng ta không thể đi vào chuyên sâu , có một cách giải thích nữa như sau . Nếu chúng ta mặc định mỗi cá nhân có cấu tạo tâm, sắc ( tinh thần, vật chất)  rất khác nhau .Tuy nhiên , số tâm nổi bật , chế ngự, so với cái tâm khác, lại giống nhau, nó sẽ tạo ra một tập thể do định luật tương ưng. Những cá thể này tạo ra một cảnh giới , thí dụ: người thích uống rượu, người thích chơi bài, người thích sử dụng chất say vv…chết, cận tử, nhập định, lúc ngủ vv…chỉ sự tách ra( SEPARATE)  của tâm và sắc (tinh thần và vật chất) vĩnh viễn hoặc tạm thời , bị động( chết) hay chủ động ( nhập định ,thuốc mê) .Kinh nghiệm đơn giản nhất là ai cũng nằm mơ , mình vẫn thấy mình là mình ở cuộc sống đời thường, điều này quí độc giả hoàn toàn có thể tự kiểm tra.Tuy nhiên , ở người tu thiền hoặc tu luyện ở một trường phái nào đó lại khác.Vì cố ý tập luyện làm thay đổi cấu tạo của tâm. Do đó,  lúc thoát ra khỏi cơ thể vật lý .Có thể thấy mình khác với cái tôi ở cuộc sống bình thường, khác không có nghĩa là tốt hơn , mà ngược lại có thể là kém hơn  vì do dồn nén quá sức, kỹ thuật tập luyện không thích hợp .Tu tập đưa đến phản tác dụng là việc rất dễ và thường  xẩy ra .Thí dụ: điên loạn, ma nhập vv..

Tam Tiểu Thư.

Ở cuộc sống đời thường , người ta  cho là cảnh giới như : thiên đường , địa ngục, tiên, thánh vv… cảnh giới khách quan phải có một cái thước đo nào chứ ?

Ông Tổng Quản.

Ở ngay cuộc sống đời thường , ở một người bình thường , cảnh giới tích cực hay tiêu cực , lệ thuộc ở trang thái tâm lý của chính mình, triết lý sống của chính mình.Chính cuộc sống đời thường cũng có rất nhiều cảnh giới.

-Ở trường phái Sakya Muni có một cái thước để đo cảnh giới , đó là “ thước đo độ phiền não” cho tất cả các chúng sanh.Theo thước đo này thì lò lửa của ham muốn , thèm khát …của các giác quan, là cảnh giới thấp nhất ,  được mô tả là cảnh khổ .vắng bóng hạnh phúc. Ngược lại, nếu vỡ lẽ , hiểu rõ mọi thứ trên đời đều tạm bợ , dù là vật chất hay tinh thần …thì cũng đỡ khổ!

“ Một người mà thiếu trong ta
Thế gian đông mấy cũng là vắng hoang

(UN SEUL  ETRE  VOUS   MANQUE  ET   TOUT  EST   DEPEUPLE   - LAMARTINE- L’ISOLMENT)

Lòng cuồn điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?

                                                                   Hoài Cảm- Cung Tiến.

-         Một trong những kỳ quan thế giới có tên là “ Giọt Lệ Trên Má”

-         Lên xe tiễn em đi – chưa bao giờ buồn thế- trời mùa đông Paris.

Lời nói của Sakya Muni  có lẽ lúc nào cũng đúng ,” nước mắt của con người còn nhiều hơn bốn biển “  có một cảnh giới mà trường phái này đề cập tới , đó là cảnh” tịch tịnh” ( SANTI) thế gian gọi là NIRVANA. Đạt được cảnh giới này  cũng dễ và cũng khó, cũng xa mà cũng gần , không phải cố ý nói hàng hai , mà sự thật nó như vậy  đó! Nếu giải quyết được nội tâm thì “ khi xem, hoa nở , khi chờ trăng lên “ cũng vui.

Thế gian cũng có cảnh  NIRVANA như sau .

” Thơ anh làm em hát, tơ anh dệt em may
Ta xây đời bằng mộng, như tiếng dệt con thoi
…”

Chưa chắc xây một cái chùa  cả chục ngàn tỉ mà đã vui , thèm khát, ham muốn lớn…thì phiền não lại càng lớn, mà phiền não là nguồn gốc của luân hồi , sanh , tử. Có một nguyên tắc mà ai cũng biết , những tài sản lớn đều liên quan đến tội ác . Có lẽ có một đền đài đáng xây nhất , là đền đài tình thương không vụ lợi trong tim của mình, đền đài tình thương không vụ lợi sẽ tồn tại vĩnh cửu dù ta sống hay chết.Trên thế giới , ở các nước văn minh, có không biết bao nhiêu tượng đài, để tưởng nhớ đến các  chú chó cao thượng, có những hành động tình cảm  không vụ lợi đối với loài người. Tại Nhật có một tượng đài của một chú chó , các cơ sở xung quanh cũng lấy tên chú chó. Chính hành động và tình cảm không vụ lợi của các chú chó , đã chinh phục được các xã hội văn minh  hiện đai bậc nhất thế giới . Có lẽ tình thương không vụ lợi đã đưa chính  mình và mọi người đến miền an lạc. Rõ ràng miền an lạc cũng gần mà cũng xa phải không quí vị?

BÚT DANH :  MÔT CỘNG TÁC VIÊN

( Đăng ngày : 09.05 .2018 )