Con mắt thứ ba - DẪN NHẬP VỀ THIỀN ĐỊNH(27)*****

DẪN NHẬP VỀ THIỀN ĐỊNH

TÔI Ở CẢNH GIỚI NÀO NHỈ? CHƯA CÓ CÂU TRẢ LỜI.

Tam Tiểu Thư:

Tôi nghĩ, tôi cũng như quí độc giả, đều muốn biết mình ở vào cảnh giới nào  nhỉ (nếu mình mặc định, tin vào là  có cảnh giới )

Cảnh giới hiện tại và sau này chết đi? Tu thiền hiện có cải thiện được việc “nhập cảnh” vào một cảnh giới nào đó tương đối OK?

Ông Tổng Quản:

Vâng, câu hỏi này ai cũng muốn hỏi, muốn biết, nghe thì đơn giản, nhưng thực tế lại không đơn giản như vậy. Xin phép nhắc lại một định đề của trường phái SAKYA MUNI là “ cảnh do tâm biểu hiện”. Cụ thể là, cấu tạo tâm của một chúng sanh quyết định cảnh giới vào từng thời điểm khác nhau. Tùy theo tâm trạng mà tương thích với cảnh giới nào đó. Do đó, mới có câu nói “1 phút nóng giận đứt tan 1 rừng công đức”. Bởi thế, người tu thiền rất e ngại các loại tâm kể sau: sân  hận, than dục, hôn trầm, phóng tâm, hoài nghi, ... nổi lên trong lúc tu thiền định. Chỉ trong lúc đạt được nhất tâm là tương đối an toàn. Tuy nhiên, nhất tâm vẫn bị định luật vô thường chi phối, có nhập định thì phải có thối định (ra khỏi định).

Kể cả quí độc giả nhập được thiền vô sắc là cao nhất trong kỹ thuật thiền định thì cũng bị định luật: có sanh ra thì phải có mất đi. Ít nhiều vẫn là đối tượng của dục vọng, dù dục vọng có thăng hoa (SUBLIMATION) thì cũng là dục vọng, mong cầu vv.... Vâng, định tâm đưa đến lạc và ngược lại của cái vui là phiền não!

Có lẽ vì thế, trường phái này nói đến một từ ngữ gây nhiều tranh cãi về lý thuyết là
“diệt tâm định” (Sau khi đạt được “Phi tưởng, phi phi tưởng”.) Chỉ ở cấp độ này của trạng thái nhập định thì mới đạt được thần thông là “tận lậu thông”. Thần thông này có nghĩa là “gánh nặng thế gian đã đặt xuống các phiền não đã khô cạn vv.... Dù đạt được trạng thái này trong “cơn đại định”, thì cũng chỉ có tính cách tạm thời. Khi xuất định thì chúng ta lại trở về con người bình thường. “Cơn đại định, tận lậu thông” chỉ còn là kỷ niệm của quá khứ!

Tam Tiểu Thư:

Tôi hiểu ít nhiều rồi, con đường hướng về mục tiêu hạnh phúc nào đó là một “con đường nhỏ hẹp khó đi, khó lãnh hội” (Kinh chuyển pháp luân) có quá nhiều trạm thu phí BOT (BUILD – OPERATE – TRANSFER). Hèn chi, thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh, cũng gặp đầy các trạm BOT trên đường đi đến Lôi âm tự.

Có lẽ vì câu hỏi không có câu trả lời này, nên các quí vị tu thiền, cứ phải lệ thuộc vào một vị thầy nào đó, gọi là chân sư (GURU). Vì cho là họ có khả năng hướng dẫn, trợ giúp, biết mình ở vào trình độ nào...

Ông Tổng Quản:

Một cách kỹ thuật mà nói, không ai có thể khẳng định, mình chắc chắn sẽ đến một cảnh giới nào đó, kể cả các vị được gọi là Thầy. Cấu tạo tâm của loài người vốn mang tính chất bẩm sinh không ổn định, nói về lộ trình của tâm. Nói về mặt cấu tạo của tâm, cũng không ổn định về số lượng, hình thức tương tác. Thí dụ: một hành động, một ý thức, mình tự quyết định. Nhưng cũng có thể chúng ta có một ý nghĩ, một hành động do ai đó mách bảo. Thí dụ, chúng ta chạy xe tự tôn trọng luật giao thông. Mặt khác, có khi do cảnh sát giao thông bảo chúng ta phải tôn trọng luật lệ giao thông...

Nói một cách khác, chúng ta không chủ động quản lý được các tâm, các sắc, các năng lượng của nghiệp lực. Riêng nghiệp lực lại vô hình, vô ảnh, chợt đến, chợt đi... Kể cả các bậc thầy về thiền định cũng chưa chắc khẳng định là mình khi bỏ xác sẽ đi về đâu. Dân gian có câu nói:

Tri nhân, tri diện, bất tri tâm.

Họa hổ, họa bì, nan họa cốt...

Nói vậy chứ không nên quá bi quan, thiền định có thể giúp chúng  ta có một kỹ năng là “thông suốt ta và người trong ngoài”. Quí độc giả thực chứng thiền định có thể đánh giá mức độ chính xác của phát biểu nói trên.

Tam Tiểu Thư:

Kể cả sử dụng kỹ thuật thiền định để “nhập cảnh” một cảnh giới OK cũng không phải là đơn giản rồi! Hèn chi có tài liệu bảo “Thiền định không đưa tới giải thoát” lúc trước tôi không hiểu tại sao lại nói như vậy. Tôi lại nghĩ là nói chơi hóa ra là thiệt.

Ông Tổng Quản à! Ông thử xem có cách nào “ngon, bổ, đẹp, rẻ” hơn không? Không lẽ lại ngồi đợi tử thần đến gọi tên một cách thụ động, cho mình biết là có tên trong sổ “đoạn trường”.

 

Ông Tổng Quản:

“Trụ sinh, kháng sinh, biệt dược” để trị về các loại tâm khó chịu, khó bảo cũng có từ lâu rồi. Đúng vậy, thật sự thiền định là một pháp tu rất khó nhưng không đưa tới giải thoát. Chỉ tạm thời chấm dứt phiền não, y khoa gọi là chữa triệu chứng (TRAITEMENT SYMPTOMATIQUE). Tài liệu cổ có đề cập đến 2 loại tu tập, một là sử dụng con đường tu thiền, từ sơ thiền cho đến “diệt tâm định”. Loại thứ hai là giải quyết tư tưởng, cụ thể là hiểu được, vỡ lẽ được sự thật về tính chất vô thường, vô ngã và chỉ có ở niết bàn là tịch tịnh (yếu tố SANTI, đặc trưng của việc, khi các phiền não khô cạn). Còn con đường đi tắt, đơn giản, dễ làm, là phát triển tâm từ bi ( LA COMPASSION) còn gọi là “Bồ đề tâm” một từ ngữ mang tính chất kỹ thuật về tôn giáo.

Từ bi nên hiểu là kỹ thuật tích cực, trong mục đích để đạt đến một mục tiêu là đến một cảnh giới nào đó. Còn giữ giới là kỹ thuật thụ động cũng để đạt mục tiêu như trên.

Tam Tiểu Thư:

Ủa! Sao lại bảo giữ giới là một kỹ thuật để đưa mình đến một mục tiêu, cụ thể là một cảnh giới nào đó.

Ông Tổng Quản:

Như những bài trước chúng ta đã biết, các cảnh giới có những tính chất rất khác nhau. Do đó, nhu cầu của các chúng sinh ở các cảnh giới cũng khác nhau. Một thí dụ hết sức là cụ thể, nếu quí độc giả nào đó khi thực sự nhập định vào sơ thiền hữu sắc, thì không có nhu cầu về tình dục nữa, chúng ta không có tính chất nam hay nữ, vì yếu tố “bản tánh sắc” của vật chất đã không còn tồn tại ở cảnh giới này. Ở cảnh giới vô tưởng, không có 5 giác quan. Ngay chúng ta khi thiền định, chúng ta chủ động ngăn chặn các giác quan, gọi là bế
“lục căn”. Thật vậy, khi thực sự nhập định, chúng ta không còn sử dụng các giác quan. Các giác quan vốn có là: nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, thực. Không có chỗ sử dụng trong trạng thái định tâm và ngược lại, nó là những vật cản, trở ngại trong giai đoạn nhập định cũng như đã định tâm. Tiếng hát, nói chuyện, âm nhạc... là trở ngại rất lớn khi nhập định. Do đó, người tu thiền thực sự hay tìm chỗ yên lặng để thực hành thiền định.

Đến đây chúng ta đã có thể trả lời, tại sao giữ giới lại là một yếu tố cần thiết để đưa chúng ta đến một cảnh giới cao hơn. Trường phái Sakya Muni đưa ra 4 giới cơ bản là: sát, đạo, dâm, vọng.... Những giới này có lẽ chỉ là phong tục, tập quán, qui ước, lối sống, ...Ở một cảnh giới khác. Xin nhắc lại, ở cảnh thiên dục giới còn có nam có nữ, nên có quan hệ nam nữ. Tuy nhiên, ở cảnh sơ thiền hữu sắc, cấu tạo của một chúng sanh không có giới tính. Nếu chúng ta có ý định đến cảnh giới này mà vẫn duy trì thói quen là quan hệ nam nữ thì chúng ta không đến được, vì lối sinh hoạt đó không phù hợp. Do đó, có tu thiền cả đời cũng chỉ đến cảnh thiên dục giới cao nhất là tha hóa tự tại, ở đó vẫn còn nam nữ, quan hệ là chỉ cần nhìn nhau.

Ở cảnh sơ thiền hữu sắc ( là cảnh thấp nhất của thiền hữu sắc) thực phẩm là “cái vui” chứ không phải là thịt, cơm, vv... (chúng ta cũng có kinh nghiệm, khi vui quá hay buồn quá không có thèm ăn). Cảnh giới này sống bằng “cái vui” nên “sân, hận” không hiện hữu, nên không có chiến tranh. Do đó, nếu vẫn duy trì lối sống, tranh đấu để tồn tại, bằng việc chém giết đồng loại... thì không phù hợp với lối sinh hoạt ở cảnh thiên hữu sắc.

Hai thí dụ nêu trên, đã minh họa rõ ràng, việc không chém giết, quan hệ nam nữ... là quyền lợi thiết thực của người tu thiền, nếu muốn tiến hóa, làm khô cạn phiền não. Nếu hiểu như vậy thì rõ ràng là các loại tâm như: nhân ái, bác ái, từ bi... là công cụ cần và đủ giúp chúng ta thoát ra khỏi luân hồi, phiền não.

BÚT DANH :  MÔT CỘNG TÁC VIÊN

( Đăng ngày : 15.12 .2017 )