Con mắt thứ ba - DẪN NHẬP VỀ THIỀN ĐỊNH(14)

Lý thuyết và thực hành trường phái Sakya Muni.

 

Ông tổng quản:
                           - Thật vậy, Minh sát tuệ ( Vipassana) quán cái chết vv…đã đưa học viên đến hủy hoại thân thể và có người đã tự sát ( quí đọc giả có thể tham khảo tài liệu tự thuật của một học viên trong bài viết “ Mặt tối của thiền định” ( Dark side of meditation) cùng trong trang web này.

Tam tiểu thư:
                        - Vậy tài liệu nào tương đối sát vời Trung bộ kinh nhất?

Ông tổng quản:
                           - Có lẽ ABHI DHAMMATTHAS ANGAHA hoặc TRIDHARMAKASASTRA gần với tư tưởng Sakya Muni nhất. Tài liệu này tiếng việt dịch là “ Thắng pháp tập yếu luận”,” Tam pháp độ luận “…

Những tài liệu này có 3 tính chất cơ bản:

         1/ Vi giải phẩu học về các loại tâm, sắt, cái tôi.
         2/ Sinh lý học, cơ học về các loại tâm, kỹ thuật xử dụng tâm.
         3/ Bệnh học về các loại tâm.

Tam tiểu thư:
                         - Tôi có ý kiến như sau:
         -  Thứ nhât, tôi cũng như quí đọc giả cảm thấy lúng túng khi ông bảo: Trường phái Sakya Muni, qua lịch sử, chưa từng là một tôn giáo bao giờ! Tôi nhớ người ta thường bảo nhau cách tu của trường phái này là 8 con đường chân chánh ( Bát chánh đạo: NOBLE VOIE OCTUPLE ) gồm : Chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh kiến, chánh định.) Đúng rồi không có chánh tín! Vậy thì không thể coi là một tôn giáo được.

         - Điều thứ hai, vi giải phẩu học về tâm, sắt, cái tôi là gì?, có lợi gi ?. Còn cơ học, bệnh học…

Ông tổng quản:
                           - Kính thưa quí đọc giả, những gì chúng ta học về tâm lý, sinh lý…tại nhà trường, có những giới hạn nhất định trong thế giới chúng ta đang sống. Khi thực sự bước vào thế giới nhập định, các lớp định, các cánh giới…cần phái có một chủ thuyết phù hợp để giải thích và ứng dụng.

        -Nhờ hiểu biết về cấu tạo tâm, vận hành tâm của chính mình, chúng ta có hy vọng định tâm (Samatha ). Chỉ nói riêng về lãnh vực thiền định, có thể có nhiều quí vị hỏi người hướng dẫn là mình có tu thiền định được hay không?,chỉ cần khách quan nhìn vào cuộc sống và tâm tánh của mình là tự có câu trả lời. Một tri thức luận lành mạnh vừa đủ để đánh giá cấu tạo tâm của chính mình. Những tâm tiêu cực, xa mục đích tiến hóa, tâm lưng chừng ở giữa, không tiến, không lùi. Tâm tích cực có khả năng tiến hóa. Cụ thể là thế này, nếu ai đó khao khát, thèm muốn quá đáng đời sống vật chất: tiền bạc, nhà cửa, tình dục, ăn uống, ăn mặc, giải trí vv…,mặc khác, dễ nóng giận, thậm chí là vô cớ đưa đến tranh luận, cãi nhau, xô sát…,nhìn mọi việc theo quan điểm của mình chứ không theo sự thật khách quan.

      - Theo quan điểm của “ pháp Vi Diệu”, thì cấu tạo tâm này, không thuận tiện cho con đường tiến hóa. Tại sao?, vì nó phù hợp hoàn toàn với cảnh dục giới: yêu mến, thèm khát,mong muốn thỏa mãn thú vui thuần túy vật chất.

Tam tiểu thư:
                       - Vâng, tôi có xem ở đâu đó không nhớ rõ, có nói tới đỉnh cao của cảnh giới cỏi dục là A Tu La. Nghe nói phước báu giàu có còn hơn cõi trời, người nữ rất đẹp. Đặc biệt tâm ”sân”rất cao nên hiếu chiến, thích đánh nhau, thường đánh nhau với “ chư thiên”.
       - Trong chiến tranh, chư thiên từ trên không trung đánh xuống, còn A Tu La đào các đường hầm. Câu chuyện này là giả tưởng hay biểu tượng?, tôi xem tivi thấy có tôn giáo quá khích cũng đánh nhau gần như không có lý do gì cả! hay đúng hơn là không theo ý thức hệ của mình. Những vị này họ cũng đào đường hầm, cũng dùng phụ nữ làm nô lệ tình dục…”lộng giả thành chân”, người Trung Quốc thường nói như vậy.

- Thèm thuồng, khao khát các thú vui vật chất quá độ: tình, tiền, ăn uống, chất say, nam nữ…,Nóng náy, cáu giận và khăng khăng cho quan điểm của mình là đúng, bất chấp sự thật. Đó là 3 ‘tâm” ngăn cản con đường tiến hóa. Vi diệu pháp gọi là 3 bất thiện tâm cơ bản ( tâm vương) : tham, sân, si.

Ông tổng quản:
                           - Chính xác là như vậy, kịch bản vừa rồi mang tính chất biểu tượng.” giả thật khó biết”. Thực tế cho thấy, nếu người nào có những tâm kể trên, thì thưc hành thiền định khó thích hợp, khó thành công. Đỉnh cao của thiền định là tâm “xả” (bỏ hết), mà lại “tham dục” thì hai tâm này không thể thỏa thuận với nhau được. Tâm  “hỷ” và “lạc” ( mừng và vui ) là hệ quả của “ nhứt tâm” không thể dung hòa với “sân hân” vv…”An chỉ tâm” là minh triết không thể tồn tại cùng tâm “si” là mê muội.
       - Vậy, “luận” được coi là vi giải phẩu học, cơ học, bệnh học về tâm không phải là quá đáng. Nó giúp cho chúng ta trước, trong lúc, sau khi thực hành thiền định rấ hiệu quả. Không những tự biết về mình, mà còn biết về người khác, có thích hợp với việc thực hành thiền định hay không.

BÚT DANH :  MÔT CỘNG TÁC VIÊN

 (Đăng ngày : 15.07.2017)