Con mắt thứ ba - Cơ học thiền định (3)

                                                                       CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH   (tiếp theo)

                                                                            Hiện trạng bộ môn thiền định

      - Chỉ viêc đi vào một siêu thị bất kỳ, ta sẽ bắt gặp những sản phẩm không biết tên là gì, dùng làm gì. Đây chính là bức tranh cụ thể của chủ nghĩa duy vật thực dụng. Do đó, bộ môn thiền định phi thực dụng rất khó sống sót.
      - Mặt khác, cái nôi của khoa học kỹ thuật hiện đại ngày nay ở Mỹ và Châu Âu lại thực sự không có một từ ngữ nào dịch được từ ngữ thiền định từ lý thuyết cho đến thực tế.
      - Những ngôn ngữ bắt nguồn từ La tinh, không có từ ngữ để mô tả, dịch từ ngữ thiền định. Điều này có thể hiểu được, vì thiền định không hiện hữu tại các quốc gia nói trên. Cụ thể như sau: Tiếng Pháp động từ là MEDITER , có nguồn gốc La tinh là MEDITARI, danh từ là MEDITATIO, có nghĩa là đặt để dưới những phản tỉnh, xem xét nội quan, phóng rọi, tổng hợp, đắm mình vào sự phản tỉnh. Danh từ tiếng Anh,  Pháp , Đức đều là MEDITATION. Động từ tiếng Anh là MEDITATE- TO MEDITATE UPON/ on some thing  là suy tư, suy gẫm về điều gì.Những từ ngữ này để chỉ về thiền định, hình như  chẳng liên quan gì đến thiền định thì phải, nó có vẻ giống với quán tưởng về một đề tài nào đó hơn là việc định tâm. Nhất là thiền định theo quan điểm hay mô hình của trường phái Sakya Mni.
      - Có lẽ người Âu Mỹ hình dung thiền định như mô hình của thánh nữ Theresa Avila thì phải  (quí đọc giả có thể truy cập DEN THANH- PHERO LETUY- Thánh Theresa Avila - Lâu đài nội tâm)  Xin phép nêu ra vài chi tiết”… Ngài  đã được thị kiến Chúa Jiê-su đầy thương tích… Một thiên thần dùng giáo đâm thủng tim ngài…và Chúa Jiê-su gọi  ngài là hiền thê…các cuộc xuất thần tăng lên. Ba Ngôi, Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh hiện ra với Ngài ( Ngài ở đây là nữ tu Theresa Avila ).

      Chúng ta có lẽ nên chọn trường phái Sakya Muni, để đối chiếu quan điểm thiền định với mô hình của thánh nữ  Theresa Avila. Sở dĩ chúng ta chọn trường phái thiền định này vì tính chất nhất quán và chinh qui cao.
      - Theo quan điểm của trường phái Sakya Muni, những khả năng mà thế gian gọi là thần thông, chỉ là phó sản,hệ quả tất yếu, là cặn bả của thiền định- nếu xét theo quan điểm tiêu cực -   . Vẫn theo quan điểm của trường phái này, thiền định thậm chí không đưa đến giải thoát.

Nếu hiểu theo quan điểm này, thì kỹ thuật “ chiêm nghiệm “ và “ tâm niệm “ ( từ ngữ của Ki tô giáo) của thánh nữ Theresa Avil,  không đủ thuộc tính để gọi là thiền định, hay nói đúng hơn chẳng liên quan gì đến thiền định cả. Quí đọc giả nào đã từng nhập định thì hiểu rất rõ, thậm chí là khá ngạc nhiên về những ấn chứng của vị thánh nữ.

Với quan điểm của phân tâm học, thì cho đây là trường  hợp điển hình của sự dồn nén bản năng tình dục, sau đó là việc giải thoát ẩn ức ( DEFOULEMENT). Hiện tượng này hết sức phổ biến, quí đọc giả có thể tham khảo về tiểu sử sẽ hiểu rõ hơn.
      Xin phép gọi là “cảnh giới” của người Âu Mỹ, khó có thể hình dung được nội hàm của bộ môn thiền định. Do đó, thiền định không có chỗ đứng trong các bộ môn học thuật của người Âu Mỹ, kể cả trong tiểu thuyêt hư cấu ( FICTION ).

      Với cuộc sống duy vật chủ nghĩa, các vật dụng, sản phẩm phải đạt được chứng chỉ tiêu chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền, thì người tiêu dùng mới sử dụng. Thực phẩm, thuốc có FDA ( FOOD AND DRUG ADMINISTRATION ); máy móc thì CÓ OEM ( ORIGINAL EQUIPMENT MANUFACTURE ); dầu nhớt có API (AMERICAN  PETROLIUM INSTITUTE )…Với một bối cảnh như thế này, thì bộ môn thiền định khó có cửa, để trở thành một bộ môn chính qui trong xã hội loài người

      Thế kỷ 19 và20, có 2 vị nữ rất nổi tiếng, lại làm cho bộ môn thiền định càng trở nên khó hiểu hơn nữa. Với tác phẩm “ Vén màn ISIS ( ISIS UNVEILED ), quí cô BLAVATSKY cho biết có một linh hồn trong cơ thể của mình (SECOND CONSCIOUS NESS within her body, referring to it as “ the lodger who in me). Nói nôn na, tác phẩm trên là do một vong linh viết.

     - Tiền bán thế kỷ 20, một người Anh tên Cyril Hoskin, có viết một số tác phẩm, khoảng 20 cuốn sách, nổi tiếng thế giới, có dịch ra tiếng Việt “ The third eye “, Con mắt thứ 3. Với nhãn hiệu như thế, được kỳ vọng tài liệu này sẽ dạy cách  để mở đệ tam nhãn… Sự thật không phải như vậy. Quí vị nào ít nhiêu thật sự thấy,  biết nhờ vào công phu thiền định, sẽ thấy tài liệu này không phù hợp với thực tế mà mình đã thực chứng.
      Điều đặc biệt đáng ngạc nhiên là những tài liệu này thật sự do một hồn ma tên là LOBSANG RAMPA  người Tây Tạng viết. Trong số 20 tác phẩm của tác giả nói trên, có một tác phẩm “ Living with the Lama” lại do FIFI, là  một trong những con mèo viết.  Con mèo này nói về đời sống của mình và những chuyện trước khi gặp ngài Rampa. Tác phẩm này cho thấy một lộ trình, để có thể giao tiếp với thú vật, nếu người nào đó có khả năng thần giao cách cảm (TELEPATHY ).

      Đây là một đặc tính nổi bật của các tài liệu Ấn Độ. Những câu viết ngắn gọn được gọi là
“ chân ngôn “, là định lý, định đề vv… Những phát biểu này hoàn toàn vô nghĩa với hầu hết mọi người ở cuộc sống đời thường. Chỉ có thể hiểu được với 2 điều kiện cần và đủ sau:
     - Phải có năng lực thiền định, nhập định được và duy trì được trạng  thái  gọi là định tâm, nhập định. Theo trường phái RAJA YOGA  có 3 giai đoạn, DHARANA- DHYANA- SAMADHI. Từ cơ sở này người ta sử dụng “ chân ngôn “ số 17 của chương VIBHUTI. Cụ thể là thế này, lấy tiếng kêu của  gà, tiếng sủa của con chó vv…làm đối tượng  của việc định tâm, gồm 3 giai đoạn nêu trên, với mong muốn hiểu được ý nghĩa tiếng kêu của con gà, tiếng sủa của con chó vv…Giai đoạn định tâm ổn định nhất ( tùy theo cá nhân ), ta nhận biết bằng tư tưởng hoặc bằng hình ảnh. Đối với người không có kinh nghiệm,thì thấy những  tư tưởng và hình ảnh này là vô nghĩa, vô lý, nó rời rạc, ngớ ngẩn. Thực sự đây là một loại tín hiệu quí giá, một ngôn ngữ  chứa đầy ý nghĩa,  đầy dẫy những điều chúng ta chưa biết. Đạt được thành tích này, ta ngỡ ngàng, ngạc nhiên khi hiếu được con gà muốn nói điều gì: ăn, uống vv… chính mình kiểm chứng trên thực tế. Cuối cùng, chúng ta trở nên dè dặt, khiêm tốn một cách bản năng.

      - Từ ngữ “ thần giao cách cảm “, thực sự tiềm ẩn kết quả của cả một quá trình thực hành thiền định, có thể mất cả đời người với thành quả tích cực. Quí đọc giả nào tâm huyết gắn bó với bộ môn này, sẽ thực sự chia xẻ quan điểm nêu trên.
      - Chân ngôn PATANJALI  bán đầy ở các tiệm sách. Nó vô dụng, vô nghĩa, vì  được viết bằng một thứ ngôn ngữ của trạng thái nhập định cho người cùng cảnh giới.

      Hậu bán thế kỷ 20, có quí cô BARBARA  ANN BRENNAN với tác phẩm “ Bàn tay ánh sáng “. với kinh nghiệm của chính bản thân  mình, đã được đánh giá tích cực bằng thực nghiệm. Mặc khác, cô còn có  một kiến thức chắc chắn về khoa học hiện đại, nên tác phẩm này là một cuốn bách khoa toàn thư về việc điều trị bệnh tật bằng tâm lý, nếu tư duy hơn gọi là tâm linh. Tuy nhiên, chính  khoa học gia cho biết, kiến thức về vấn đề chuyên nghành, lại do một vong linh tên là HEYOAN cung cấp.

     - Còn rất nhiều vị khác nữa, đạt được những thành tích mang tính chất lịch sử lại do hồn ma chỉ đạo,  thí dụ Charles Lindbergh. Theo như tự thuật của ông, thì không phải  là gặp ma, mà là do ảo giác ( HALLUCINATION ). ( Quí đọc giả có thể truy cập thông tin độc lập để xác minh ).

     - Ở đây chúng ta chỉ nêu lên một số sự kiện nổi bật một thời ở xã hội  Âu Châu. Chính những tác giả nói trên, đều đề cập đến  bộ môn thiền định một cách thiết tha. Từ Therera  Avila cho đến Barbara Ann Brennan đều đề cao việc tư lự, trầm tư mặc tưởng, cho đến cái gì đó tương tự nhập định. Nhưng cuối cùng thì không phải nhập định. Thực tế, đều do các vong linh viết ra theo quan điểm của mình.

       Trước năm 1975, Việt Nam  có hai vị viết 2 tài liệu nói về hệ quả của việc tập thiền định. Tài liệu 23 tháng tu thiền định  của ông H.V.E,  Ngài Minh Đăng  Quang nói về việc xuất hồn bay trên thành phố Sai gòn. Với đầu đề “ Có tái sinh nhưng không có sự tái sinh “ trong  tác phẩm  “ Lưới trời ai dệt”, tác giả N.T.B nêu lại vấn đề “ le problem du même et de’ l’autre “.
      Tác giả Cao Trí với Vật lý hiện đại, hình như là nói lên sự gặp gỡ của hai nền văn minh Sakya Muni và vật lý hiện đại vv…

     - Điều khó khăn cho người thực hành bộ môn này,  là muốn tìm hiểu về diễn viên đã học cái gì để trở thành diễn viên chuyên nghiệp, chứ không phải là xem khán giả bình luận về kịch bản, diễn viên của bộ môn thiền định. Ở khu vực này các phòng đều trống, đứng về mặt giáo trình sư phạm. Nói như vậy, không phải là không có bài vở, không có thày, mà có thể còn hơn cả thế nữa.Tuy nhiên, dường như thực tế không có kết quả tích cực được ghi nhận một cách khách quan, được thực nghiệm đánh giá. Chắc chắn có nhiều đọc giả, gắn bó với bộ môn này trong nhiều thập kỷ, cũng muốn tìm một giáo trình nào đó thực dụng, khả thi, ít nhiều cũng phải phù hợp với logic đời thường. Nhưng càng tìm, lại càng không thấy. Bộ môn này đã có nhiều ngàn năm tuổi, nhưng thực tế chỉ là em bé sơ sinh

      Người biên soạn tài liệu này, có nhiều cơ hội được gặp một số vị, từng nghe đồn đãi là có huệ nhãn, có vị ở các nơi rừng núi khó đến, một số vị được coi như ẩn sĩ, thực tế khi giao tiếp, thì thấy họ rất bị dồn nén, nói nhiều, chú ý nhiều đến việc ăn uống. Khi hỏi về việc tu tập có một chủ thuyết nào đó chăng, thì được biết , họ chẳng có một chủ thuyết rõ ràng nào cả. Ngoài các sinh hoạt bình thường, thì cứ ngồi ( hay nằm không ai rõ ) gọi là “ tịnh “ hay là thiền, tập trung tinh thần ở đỉnh đầu hay trước trán. Có thế thôi, hệ quả không có gì để kiểm chứng.
Các vị đó thường đưa ra những tiên đoán không đúng với thực tế,  làm xáo trộn cuộc sống, tạo hoang mang cho người khác.
       Tại sao lại có hiện tượng  này? Chính quí vị “ sống lâu lên lão làng “ được người ta gọi là thày,  cũng  chẳng có một giáo trình chính qui có hiệu quả thực tế để học. Sở dĩ chúng ta quan tâm tới một giáo trình chính qui có hiệu quả thực tế, vì cũng có trường phái có giáo trình chính qui, có học thiền định ( tài liệu tại Viêt Nam ) nhưng hiêu quả không mong đợi này. Theo CNN, có nhiều ngàn quí vị bị tố cáo lạm dụng tình dục. Rõ ràng là lý thuyết không tương thích với thưc tế. Chúng ta không ai mong muốn rơi vào hoàn cảnh không may này, lỗi là do việc duy trì một chủ thuyết bảo thủ, lỗi thời, không tưởng, đi ngược lại với những định luật nhu cầu bản năng của con người. Không biết đến bao giờ, người ta mới thay đổi được những luật lệ không phù hợp với thực tế do chính con người đặt ra?

(còn tiếp)

Người biên soạn (dt 0915527361)

Ngày đăng : 27/5/2020