Con mắt thứ ba - Cơ học thiền định (2)

                                                                     CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH (tiếp theo)


                                        LÝ THUYẾT ĐỂ CHỦ THỂ TÂM LÝ CÓ THỂ CHUYỂN ĐỔI KHU VỰC.

                                                     Cần phải có một cái tên phù hợp cơ học thiền định.

      Đây là tên của lý thuyết mới do một cá nhân đề xuất. Lý thuyết này nhằm giải thích việc vận hành của các yếu tố tâm lý trong một chủ thể tâm lý.Trên cơ sở này, một chủ thể tâm lý có thể chuyển đổi không gian, thời gian, ngôn từ nhân gian gọi là chuyển đổi cảnh giới.

       Từ ngữ cơ học vay mượn từ khoa học cổ điển, nghiên cứu về các chuyển động, chuyển động là sự rời chỗ có thể mô tả rõ ràng bằng ngôn ngữ toán học trong không, thời gian.
       Vậy các yếu tố cấu tạo lên tâm thức của một chủ thể tâm lý thì sao?, nó không thể định chỗ, không thể đo lường … nói tóm lại, các giác quan chúng ta vốn có không thể quan sát được. Tuy nhiên, ai cũng tự biết khi nói: Tôi vui,buồn, tôi âu lo, sợ hãi vv…Tâm lý chúng ta có thể gấp lên chính mình, gọi là khả năng nhị trùng ( FACUTE’DE DEDOUBLEMENT).Chính nhờ khả năng này,  ta có thể nhận biết các yếu tố tâm lý của chúng ta  luôn luôn vận động. Dù nhìn theo quan điểm duy gì đi nữa, thì tính chất chuyển động của các yếu tố tâm lý, được hầu hết mọi người công nhận.
Tóm lại,các tiêu đề trên, nói lên một phần nào nội dung cơ bản của bộ môn này.

   *Lược sử về bộ môn thiền định.

     - Lịch sử về thiền định, có lẽ chẳng ai lạ cả. Nhưng để phân biệt trường phái nào, thực tể có thể giúp chúng ta ít nhiều trong việc thực hành thiền định và trường phái nào không làm được, lại là một chuyên khác.
- Theo truyền thuyêt, hai trường phái lớn nhất thế giới ( dựa trên thống kê về số lượng tín đồ)là Ki Tô và Hồi giáo, đều tin là vị giáo chủ của mình có ở trong  trạng thái- được mô tả như một dạng nhập định- đã giao tiếp với Thượng Đế. Do đó, kinh Koran được coi như một thẻ nhớ ghi âm trực tiếp lời nói của Đấng toàn năng. Tại Việt nam ngày hôm nay,, cũng có một quí ngài, tuyên bố một kịch bản tương tự, trong khi nhập định trong nhiều ngày, nghe có vẻ giống như mô hình của Sakya Muni huyền thoại
- Những quí vị nói trên, hình như đều sử dụng chung một công cụ thì phải, cái gì đó tương tự như trạng thái nhâp định. Tuy nhiên, không có vị nào để lại cho hậu thế một văn bản, tài liệu nào nói về lý thuyết và kỹ thuật nhập định, thiền định. Do đó, không ai có thể khẳng định, một số các vị trưởng môn có thật sự nhập định hay không?. Xin nhắc lại, kiến trúc sư của trường phái thiền định Sakya Muni, trước khi hoàn thiện bộ môn thiền định, cũng phải học hỏi các bậc thày về kỹ thuật thiền định, đủ các lớp thiền hữu sắc và vô sắc. Như vậy, trước 2.500 năm kỹ thuật này chỉ là truyền khẩu.
     - Cũng theo truyền thuyết, thì thiền định đã dần dần hình thành từ thời UPANISHAP . Có thể các tín đồ áo nghĩa thư khi hành trì tại những nơi vắng vẻ, yên tĩnh, tình cờ đã đạt được trạng thái định tâm. Có thể đây là bình minh của lịch sử bộ môn thiền định.
     - Có lẽ chỉ có trường phái thiền định của ngài Sakya Muni là còn để lại những tài liệu về thiền định, rất đầy đủ từ lý thuyết đến thực hành.

     - Sau đây là vài nét sơ lược về bối cảnh của nơi đã sịnh ra bộ môn thiền định.

      Nếu tính về diện tích trước năm 1947, khi Pkistan chưa tách ra, thì Ấn Độ ngày nay  là quốc gia có dân số đông nhất thế giới, vượt cả Trung Quốc, với trên 1 tỷ 500 triệu người, còn nhiều kỷ lục khác phải tính đến.C ó thông tin cho là có đến 330 triệu thần linh, kể cả Pakistan và Ấn Độ có trên 80 ngôn ngữ hiện nay được hiến pháp công nhận, về mặt xã hội học, có đến 4.000 đẳng cấp ( không phải giai cấp) và 4.000 thổ ngữ vv…để xác minh, đễ dàng tìm các thông tin độc lập trên trang Web.
     - Ấn Độ có lẽ là nơi sản sinh ra bộ môn thiền định chính qui, còn tồn tại cho đến ngày hôm nay, với số lượng hệ phái không thể đếm được. Theo khảo cổ học, người ta có tìm thấy những bức tượng có thể ở trong trạng thái thiền định, cách đây khoảng 5000 năm. Tài liệu Ấn độ giáo, ngoài việc ca ngợi thần linh, nghi thức cúng lễ, cũng có đề cập đến bộ môn thiền đinh với chân ngôn hay công thức “ Chú tâm vào một vật duy nhất” ( BHAVAGAD  GITA . chí tôn ca- Rigveda)
     - Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội của Ấn Độ, không thể không nhắc đến tài liệu KAMA SUTRA. Đây là tài liệu của Ấn Độ giáo với nội dung khêu dâm,nhiều nội dung khác nữa, nhưng nội dung cơ bản nhất là công nhận mục tiêu đúng đắn của cuộc sống là sự thỏa mãn ham muốn tình dục. Có thể quan điểm này đưa đến 2 khái niệm giải thoát, giải thoát khỏi cuộc sống thế gian là thỏa mãn tình dục gồm: Rượu mạnh và phụ nữ; giải thoát thứ 2 là ra khỏi vòng luân hồi sanh tử.
     - Phải đợi đến sự xuất hiện của ngài Sakya Muni, bộ môn thiền định được nâng lên một tầm cao mới và cũng phải đợi đến nhiều trăm năm sau, các luận sư mới hệ thống hóa được kỹ thuật thiền định qua các tài liệu luận.

      Tìm hiểu về lịch sử Ấn Độ nói chung và lịch sử thiền định nói riêng, có một vài khó khăn sau đây.
Ấn độ quan niệm lịch  sử chu kỳ, hay đúng hơn không có thời gian. Mặc khác “ thần linh yêu thương những gì tăm tối “.quan niệm sau này sẽ là một trở ngại rất lớn cho vấn đề các cảnh giới của bộ môn thiền định, thậm chí mâu thuẩn với cả những kinh nghiệm cận tử- nếu hiện tượng này thật sự hiện hữu, có thật-.
     - Nếu coi trường phái Sakya Muni là một tôn giáo, thì vấn đề kinh thư tài liệu khác xa với các tôn giáo khác như: Ki tô giáo, Hồi giáo…Những tôn giáo này chỉ có một tài liệu duy nhất, không thể thêm,  bớt câu, chữ vv…Kinh sách của trường phái Sakya Muni được mô tả là thiên kinh , vạn quyển, kinh ngụy tạo( APOCRYPHA ) có khoảng 500 đến 600 bộ và có thể nhiều hơn thế nữa, theo một số chuyên gia.

      Nhìn vào bối cảnh của xã hội Ấn Độ, thì việc trường phái của ngài Sakya Muni suy tàn là điều khó tránh khỏi.
      Với ngài Sakya Muni, thiền  định là một công cụ thiện xảo, mục đích là hiểu đúng sự thật khách quan của các qui luật thế giới tự nhiên đưa đến giải thoát. Nói cách khác, thượng đế và thần lịnh đã bị khai tử. Con người nói riêng, chúng sanh nói chung đã tìm lại được chính mình. Chỉ với quan điểm này, cũng là một hình thức giải thoát, giải phóng ra khỏi sự thống trị của thần linh và thượng đế.
     Tuy nhiên, từ linh hồn của trường phái là thiền định, khi du nhập vào Tây Tạng, Mông Cổ Trung Hoa, Nepal, Buta, Mã Lai, Lào, Thái Lan, Việt Nam vv… thần linh lại được phục vị, thượng đế lại tìm được vương niệm đã mất của mình!

     Cuối cùng thì ngài Sakya Muni không thể giải thoát con người ra khỏi mặc cảm thấp hèn ( COMPLEX D’INFERIORITE’ ) vốn có của mình.

(còn tiếp)

 

Người biên soạn  : ( điện thoại : 0915527361 )

Ngày đăng 22/5/2020