Con mắt thứ ba - Cơ học thiền định (1)

                                                                             CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH

                                                                                    LỜI NÓI ĐẦU

      Có lẽ đây là lần đầu tiên, kỹ thuật nhập định nói riêng, bộ môn thiền định nói chung, thoát ra khỏi vỏ bọc kinh điển truyền thống đã tồn taị  qua nhiều ngàn năm. Nhìn ở góc cạnh lịch sử biện chứng, thì việc này tất nhiên phải xẩy ra, vì nó không con phù hơp với xu thế thời đại nữa. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh phổ thông, ta có thể thực hiện những hiện tượng đươc gọi là thần thông: thần giao cách cảm ( Thelepathy mind to mind communication ), thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ và nhiều khả năng khác nữa.


      Lúc trước, người ta được biết đến những kỹ năng kỳ lạ này thuộc về đặc quyền của các vị ẩn sỹ, phải khổ luyện mới có. Những thông tin này, hầu hết là do các nhà thám hiểm Âu, Mỹ thuật lại.

      Với tập tài liệu nhỏ này, chúng tôi hy vọng sẽ giới thiệu đến quí đọc giả một lối tiếp cân khác với lộ trình qui ước, đa ngành về thông tin để chọn lựa, so sánh, phù hợp với  qui luật của nhiều trường phái tâm lý học, trong thao tác kỹ thuật thực hành.
      Không gì có thể xuất hiện từ hư vô, tập tài liệu này cũng lấy cảm hứng từ những trường phái cổ điển của quí ngài: Sakya Muni, Patanjali…và kinh nghiệm thưc nghiệm của nhiều trường phái, chẳng hạn như Mật tông, khoa học hiện đại, cơ hoc lượng tử.
      Các tài liệu về thiền định, được các khoa học gia ngày nay biên soạn, nội dung thường mô tả sự trùng hợp và tương thích của khoa hoc hiện đại và hệ quả của thiền định. Tất nhiên cũng có mặt tích cực lẫn tiêu cưc.
       Quan điểm của tài liệu này khá khác biệt. Đa ngành khoa hoc chỉ tương thích và trợ giúp cho thiền định ở khu vực trước nhập định  và kỹ thuật nhập định. Cụ thể như: tâm lý học cổ điển, phân tâm học, tâm lý học, hành vi, tâm lý học nhận thức, vật lý, sinh học, luận lý hình thức vv…   Tuy nhiên, ở khu vực sau nhập định, những bộ môn nói trên hoàn toàn bất khiển dụng.

      Luận lý hình thức là kỷ niệm về chân lý của quá khứ. Trong lúc định tâm, ai cũng thấy quá khứ và tương lai trong hiện tại. Ở sơ thiền hữu sắc, chúng ta thấy mình là trung tính, không nam, không nữ. Rõ ràng là lý thuyêt lừng danh của Sigmund Freud về libido không có không gian để tồn tại. Những mặc cảm về tình dục, ẩn ức, giaỉ thoát ẩn ức… cũng chỉ là hoài niệm về thuộc tính của  thân phận con người.

 

      Nội dung của tai liệu này chỉ han chế trong khu vực trước nhập định và kỹ thuật nhập định.   Như phần trên đã trình bày, ở hai khu vực này, đa ngành khoa học là những công cụ tuyệt vời, giúp cho chúng ta hiểu và thực hiện mục đích một cách hiệu quả, tỷ lệ thành công rất cao qua phán xét thực nghiệm. Thành quả này làm cho ta phát hiện ra những thiếu xót, sai lầm của lý thuyết cổ điển thiền định. Tìm hiểu về con người, dù đông hay tây, đã có cách đây khoảng 2500 năm.Triết học mô tả thời kỳ này là trăm hoa đua nở với các vị: SOCRATE, PLATON, SAKYA MUNI, LÃO TỬ, KHỔNG TỬ…


      Tuy nhiên, khoa học tâm lý chỉ mới có gần đây.Do đó, việc sai lầm của các lý thuyêt thiền định cổ điển cũng là điều dễ hiểu. Mặc khác, phải kể đến mặc cảm tự ti, nhỏ bé và hèn yếu, mang tính bản năng của con người, ngay đến thế kỷ 21 này. Còn nữa, tâm lý lẫn lộn chủ thể và khách thể, làm cho thần linh vẫn có chỗ đứng trong lý thuyết thiền định, thay vì những qui luật  hay định luật khách quan của thế giới tự nhiên. 

 

      Tài liệu này tiện dụng và kinh tế ( convenience theory)  ABHISHEKA, có nghĩa là rưới nước, đó là tên của lễ truyền thụ của mật tông Tây Tạng, ít nhiều tương tự với lễ rửa tội của Kyto giáo, nghi  lễ này bắt nguồn từ nghi lễ đăng quang của thái tử Ấn Độ. Trên cơ sở này, phân chia thành  hai nhóm công truyền và bí truyền, nhóm bí truyền phải tuyệt đối vâng phục một GURU,coi như một vị Phật sống.


      Để sử dụng tài liệu này, hoàn toàn miễn phí, tính chất tiện dụng là ai cũng dùng được, bất cứ ở đâu, lúc nào, không đòi hỏi một phụ kiện hỗ trợ nào cả.
      Chỉ một người bình thường, tuân theo thứ tự, cụ thể là những thao tác kỹ thuật khá đơn giản, một cách máy móc, (có thể bỏ qua những hiểu biết về lý thuyết), như vậy là đủ để có khả  năng  đạt được hệ quả tích cực, cụ thể ngươi thực hành nhập định một cách bất ngờ. Vấn đề này không có gì là khó hiểu hay huyền bí gì cả. Nó chỉ là hệ quả tất yếu của việc sử dung, khai thác những đinh luật tâm lý học của thế giới tự nhiên. Quí đọc giả sẽ phán xét qua thực nghiệm của chính mình.Rất nhiều định đề tâm lý đã đời thường hóa như: Tri giác “ vô tri bất mộ “, hình ảnh “ xa mặt cách lòng”, thích nghi “ gặp thời thế, thế thời phải thế”…

 

      Sự ra đời của tài liệu này là một nhu cầu, nó đã có từ thủa bộ môn thiền định này xuất hiện.      Trừ ngài Sakya Muni thành công theo truyền thuyêt, chưa hẳn là một sự kiện lịch sử đáng tin cậy. Người ta tự hỏi: Thực sự có mấy ai đã tiếp cận với bộ môn này?. Bàn luận, tranh luận  thì không đếm xuể. Thậm chí có trường phái của Trung  quốc “ đốn ngộ” ( giác ngộ ngay tức thì ) thì , tiền niệm mê tức phàm, hậu niệm ngộ tức Phật”. Thực tế, không có vị nào người trung quốc được khách quan ghi nhận là Phật cả, trừ trường hợp tự phong.


      Kể cả ngày hôm nay, quí vị chuyên gia nội địa ( Việt Nam ), cũng như quốc ngoại  Âu Mỹ viết về đề tài nay rất nhiều. Một nữ khoa hoc gia  người Mỹ của cơ quan Nasa, có viết một tài liệu,    ( riêng tai Việt nam được xuất bản nhiều lần),  hướng dẫn thực tế, tinh vi một cách khoa học về thiền định. Tài liệu này được dựa trên một giả thuyết khoa học vật lý lý thuyết.Có rất nhiều trung tâm để giảng dạy, nhưng thực tế không thành công như mong đợi. Chính trong tác phẩm nổi tiếng “ Bàn tay ánh sáng”, khoa học gia này cho biết, đã được sự hỗ trợ của một vong linh. Đó có thể là lý do lý thuyết này không phù hợp với cuộc sống đời thường.Một khoa học gia người Đức, chuyên gia về thần kinh và não bộ, trong tác phẩm của mình, tự thuật về các lớp thiền định từ 1 đến 9 lớp rất chi tiết tỉ mỉ, Sau đó có đề cập đến các hệ quả, theo tác giả thì mọi thứ đều là ảo giác. Nếu ai đó có đôi chút kinh nghiệm thực tế về thiền định, có thể cảm nhận những thông tin của tài liệu này đưa lại, dường như không phù hợp với hệ quả thực sự của thiền định. Có vẻ đây là một cuộc hôn nhân chính trị gượng ép giữa khoa học và thiền định,  nếu cực đoan hơn thì đây là một thứ khoa học giả hiệu ( PSEUDO SCIENCE ).

 

      Xem ra giữa lý thuyết và thực tế có một khoảng cách rất xa. Cây cầu chân lý hình như chưa bao giờ có. Thiền định thực tế , là sản phẩm của trí tưởng tượng cao độ, là một chủ thuyết không tưởng. Thật vậy, chẳng ai thấy bộ môn này mang lại điều gì thiết thực cho xã hội con người. Những hệ quả tích cực, được các cơ sở y tế của Mỹ ghi nhận, về sức khỏe con người, mức độ xác xuất rất cao không có gì nổi bật

 

      Nếu thiền định là một bộ môn có thật, thì nó có những khó khăn gì chưa giải quyết được. Do đó, hầu hết moị người,thực tế, không tiếp cận được

      Chúng ta thử tìm hiểu sơ bộ lý thuyết cổ điển về những hướng dẫn, định đề, công thức để đưa đến nhập định, nếu phát hiện được những sai lầm và sửa sang được, thì thiền định trở thành một khả năng tinh thần, tâm lý, như bao nhiêu khả năng tiềm ẩn khác, thí dụ: làm toán, lái xe, chơi đàn...

 

      Theo những tài liệu gọi là luận của trường phái thiền định nguyên thủy Sakya Muni, luồng tâm thức( có thể hiểu đơn giản là tổng hợp của các nguyên tố tâm lý) luôn vận động như một dòng nước, cụ thể tử tâm mất đi thì kiết sanh thức ( Patisandhi ) được mô tả như một gạch nối với dòng tâm thức của một đời sống mới. Chỉ  với yếu tố Patisandhi, nếu cho chủ thuyết của Sakya Muni là một thuyết không có cái tôi ( vô ngã ) ở dạng này hoặc dạng khác, có lẽ là một nghịch lý khó hiểu. Cô đọng lại thì kỹ thuật thiền định, hay đúng hơn kỹ thuật nhập định là “ chú tâm vào một vật duy nhất “ để làm cho luồng tâm thức đứng lại. Nếu muốn biết rõ thêm chi tiết, quí đọc giả có thể truy cập ở những chương: Lộ trình của tâm ( CITTA  VITTHI ), lộ trình qua ý môn_ lộ trình của người sắp chết ( trang 88,97, 135 của cuốn Thắng pháp tập yếu luận- tác giả Thích minh Châu ), còn nhiều tài liệu khác.

        Trong mệnh đề trên gồm có: một chủ đề ẩn thể, một động từ và một túc từ.

_ Chúng ta thử tìm hiểu sơ qua một số phần.
_ Có lẽ ai cũng biết đến bức tranh Mona Lisa  -của Leonardo de vinci-,nổi tiếng vì nụ cười bí ẩn, hay vì  bị đánh cắp? chỉ biết  nó nổi tiếng khắp thế giới. Một người bình thường đứng xem, có lẽ  trong vài  phút là lâu lắm, lại đi xem bức tranh khác. Tuy nhiên, khi xem một cuốn phim mà mình yêu thích , có thể xem liên tục nhiếu giờ, thậm chí là nhiều ngày, đính cao có người chơi game dẫn đến tử vong.
_ Tâm lý học cho biết, ta không thể chú tâm vào một vật duy nhất, mà phải vào nhiều vật. Thí dụ đời thường nêu trên đã ít nhiều xác minh định luật.

_Trong thế giới tự nhiên,, để tránh sự chú ý của những đối tượng thù nghịch, con người cũng như loài vật tìm cách đứng im, bất động, đó là một dạng ngụy trang phổ thông. Ngược lại, đó cũng là cách mà con người và thú vật dùng để tránh sự chú ý,để bất thình lình tấn công.

Những thí dụ đời thường nêu trên, chưa nói tới đinh luật tâm lý cho chúng ta thấy, việc chú tâm vào một vật duy nhất, mà cả tài liệu luận coi là một tiên đề, cho thao tác kỹ thuật nhập định, là một viêc mâu thuẫn với cấu tạo tâm lý vốn có của con người.Thực tế, quí vị nào đã từng thực hành thiền định đều thấy rõ, nhưng không hiểu tại sao.

      Có thể vì hiện trạng này, mà bộ môn thiền định trở thành một bộ môn thiếu chuyên nghiệp, không an toàn, đầy may rủi, từng làm dang dở đời người “ đến nay tôi hiểu thì tôi đã…”
      Mặt khác, khi mô tả về tiến trình các tâm đưa đến nhập định gồm 9 yếu tố tâm: ngũ môn, tiếp thọ, suy dạc, xác định, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển tánh, an chỉ, an chỉ tâm ( sơ thiền hữu sắc). Các giải thích là đối tượng được “ xác định tâm “, xác định,” chuyển tánh” là phù hợp, tương thích với tâm “ an chỉ “. Điều này có vẻ quá lý tưởng, lý thuyết. Thực tế, chúng ta mất ý thức tạm thời về tâm lý, khi có một tác động quá lớn, quá tải tâm lý, hoặc vật lý: sự sợ hãi quá,  buồn khổ quá…các chất gây mê, tiếng nổ, ánh sáng mạnh quá…Nói đơn giản, về mặt tâm lý  là quá tải, quá giới hạn chịu đựng.Tâm lý học nhận thức cho biết, tâm lý chúng ta cũng có những giới hạn, tuy rất linh động( cognitive psycholo gy)

 

      Để mịnh họa những bế tắc của lý thuyết thiền định cổ điển, chúng tôi xin mượn một đoạn văn của một tài liệu vật lý, mô tả về sự lúng túng của vât lý cổ điển khi giải thích về hiện tượng  bức xạ nhiệt “ có một con mèo chạy loanh quanh hết góc này đến gọc kia,trong một căn  nhà đang cháy, chỉ còn một một lối thoát duy nhất là cửa sổ hướng ra một con sông. Mèo thì vốn sợ nước, cũng có nhiều cơ hội theo học các lớp tập huấn về bơi lội cho riêng mèo, nhưng mèo đều từ chối…”
      Thưc tế, hình như người thực hành thiền định ít ai thành công, nếu không muốn nói là không thành công. E ngại nói như vậy là quá cực đoan, bất kể là chuyên hay không chuyên, bất kể trường phái. Tuy nhiên, người ta nên phân biệt rõ ràng, giữa thành quả của thiền định và hậu quả khốc  hại là bị ma nhập. Điều này rất phổ biến khi thực hành thiền định. Sự khác biệt dễ nhận ra về việc này là thái độ khiêm tốn, dè dặt và ngạo mạn, hoang tưởng.
      Tóm lại, việc thực hành thiền định không thành công, không phải do thiếu trí tuệ, thiếu nghị lực… mà có lẽ chúng ta thiếu một lý thuyết chính qui, có thể đáng tin cậy, đã được ít nhiều thực nghiệm phán xét khách quan, đã được những phương pháp thử nghiệm ít nhiều xác minh rất phổ biến của khoa học hiện đại.

 

      Với bộ môn cơ học thiền định sẽ được giới thiệu, những chuẩn mực ở thể giới của vật lý cổ điển vĩ mô không còn thích hợp. Việc này đối với EINSTEIN cũng khó chấp nhận, ông từng phát biếu: “ Tôi không thể tin rằng thượng đế chơi bài xúc xắc trong vũ trụ ( I can not believe that God plays dice with the universe ). Có thể chúng ta đều tự biết, các yếu tố tâm lý của chúng ta mang tính chất vốn có là bất định ( UNCERTAINTY ) xác xuất ( PROBABILITY ) không thể đoán trước ( UNCREDICTABLE ).Đời thường có câu “ Tri nhân tri diện bất tri tâm “; đối thoại trong  một kịch bản, anh A nói :” Anh hãy nói về mình “, B trả lời rất tự nhiên : Tôi không biết rõ về tôi“; trong văn thơ “ Giận mình cởi áo trên cầu trao ai”.
      Tính chất bất định, xác xuất là bản chất của các nguyên tố tâm lý. Có trường phái còn gọi là vô thường ( UMPERMACE ). Một trong những mục đích của thiền định là chấm dứt tình trạng này, việc này tùy thuộc vào trường phái.
      Với khung tham khảo mà chúng ta đang hiện hữu, thì tính chất của những yếu tố kể trên, nên được coi là thế giới tự nhiên là như vậy đó.
      Khi ở một khung tham khảo khác: trạng thái nhập định, chúng ta lại có những khái niệm, khác với khái niệm của cuộc sống đời thường, chỉ có thực nghiệm thục tế tích cực của bản thân mới tìm được câu trả lời tại sao?
      Khoa học tâm lý cổ điển cho biết : các hiện tượng tâm lý là “hữu ngã “. Nói một cách khác, chưa chắc mình đã hiểu được mình. Câu viết trên đền DELPHES bằng tiếng Hy lạp: GNOTHI SEAUTON ( hãy biết chính mình ) tiếp tục gợi ý trong việc tìm hiểu về vai trò và giới hạn của nhận thức, tìm kiếm nhận thức mới.

( Còn tiếp )

 

2020 

Người biên soạn  : ( điện thoại : 0915527361 )

Ngày đăng 19/5/2020