*Con mắt thứ ba [ngôn ngữ nào tốt nhất dùng để khảo cứu về tâm lý con người]

NGÔN NGỮ NÀO TỐT NHẤT DÙNG ĐỂ KHẢO CỨU VỀ TÂM LÝ CON NGƯỜI?

 

              Đỉnh cao của công nghệ ngày hôm nay của loài người, có thể kể đến tiềm kích F35. Nó là thành quả của toán học và vật lý…

Người ta tự hỏi có thể sử dụng công cụ tuyệt vời này vào tâm lý học?

Theo lịch sử, thì ngoại cảm đã có vào khoảng 1853 với ROBERT  HARE. Tính đến nay, đã tồn tại khoảng 170 năm (2021)

Qua chiều dài lịch sử của bộ môn, thì toán học dường như được sử dụng rất ít.

Xin nêu tên một vài mô hình toán học để quí đọc giả tùy nghi tham khảo.

 

Phương trình toán học của định luật FITTS

 

                         

 

Thời gian để hoàn tất một hành động, lệ thuộc ở khoảng cách và kích cỡ của mục tiêu.

Ý tưởng này là nền móng cho việc tương tác giữa người và máy ( l’interation home – machine)

Phương trình toán học của định luật HICH

 

               Cũng tương tự như định luật FITTS  

               Tăng sự lựa chọn, sẽ làm tăng thời gian quyết định theo cách logarithmique.

               Tại Việt Nam có thể kể đến:

               Hậu bán thế kỷ 20, có giáo sư Nguyễn Hoàng Phương với tác phẩm “Đông y học dưới ánh sáng của lý thuyết tập mờ”

               Tiền bán thể kỷ 21

               Tài liệu “Giả thuyết cơ học thiền định” có đề cập đến  hằng số 7.

 

              Tổng hợp của toán học, vật lý, sinh học… được thể hiện ở một số máy móc, có liên quan đến tâm lý con người như: điện não đồ (electroencephalogram – EEG), máy phát hiện nói dối (lie detector) vv… mà hầu hết quí đọc giả đã biết rất rõ.

              Vào năm 1991, tiến sĩ tâm lý học Leonard Saxe đã nói về máy phát hiện nói dối như sau: việc sử dụng máy phát hiện nói dối, bằng cách quan sát các biến đổi tâm lý, là huyền thoại hơn là sự thật (quan sát khách quan)

              Máy phát hiện nói dối căn cứ vào những tham số: nhịp tim, áp huyết, hô hấp, dẫn truyền của làn da (skin conductivity). Một người hiền lương rất nhạy cảm, xúc động trước các câu hỏi kiểu điều tra. Tội phạm chuyên nghiệp lại khá bình tĩnh trước cùng câu hỏi. Có thể có hiệu ứng giả dược (placebo effect). Người bị hỏi sử dụng hóa chất vv… có người còn nghĩ ra cách đánh lừa máy phát hiện nói dối một cách khá đơn giản: thí dụ, tưởng tượng ra một kịch bản làm rối loạn tâm lý: sợ hãi quá, vui quá, buồn quá …

             Blaise Pascal từng nói “ luận lý mà người ta không thể từ chối và luận lý toán học, không thể hiểu được luận lý tình cảm của tâm lý” (le coeur a ses raisons que la raison ne connait point)

             Nói tóm lại, ngôn ngữ toán học khó có thể đồng hành với tâm lý học vì khác biệt quá xa.

             Xin phép nhắc lại, tâm lý học cổ điển có mô tả một số tính chất cơ bản của các hiện tượng tâm lý như: không thể định vị, không thể đo lường, hữu ngã, hữu hướng, liên tục tính, đơn nhất tính, cá thể tính… trong khi toán học thì nổi bật với tính chất chính xác cao, biểu tượng cao… Đơn giản hóa có thể mô tả thế này: hai bộ môn này có hai hệ quy chiếu, hai loại luận lý hình thức hoàn toàn khác biệt, nên khó có hy vọng tương thích.

              Hoàng Đế Nội Kinh cũng tách cơ thể vật lý là “hình” (hình thể) và “thần” có thể hiểu là cơ thể tâm lý, ra làm hai phần riêng biệt.

Khoa học gia Barbara Ann Brennan từng có một thời gian làm việc ngắn tại cơ quan NASA, với tư cách là assistant resreacher, trước khi là một nhà chữa trị. Theo tác giả này, thì con người có đến 7 cơ thể khác nhau!

              Một kinh nghiệm dân gian mà ai cũng có, đó là nằm mơ, mơ thấy mình làm cái gì đó, ở đâu đó vv… Mơ tất nhiên là ảo, xét ở hệ quy chiếu vật chất, theo quan điểm thông thường. Tuy nhiên, xét ở một hệ quy chiếu khác về vật chất, của trường phái Sakya Muni chẳng hạn (RUPA), thì những gì trong mơ có hình ảnh vẫn thuộc một loại vật chất thuộc cảnh giới “sắc”  ( la forme: có hình thể).

              Một vấn nạn nghe ngây ngô nhưng khó trả lời: nếu là ảo, là không có, tại sao chúng ta lại tri giác được? Sau đó (Encoding) mã hóa ghi nhận, tồn trữ, có thể gợi nhớ lại từ ký ức, bằng các hình ảnh của các giác quan nói theo ngôn từ tâm lý học. Theo quan điểm của trường phái nhận thức (cognitive psychology) trí nhớ là một dấu vết trong não bộ(Trace) được mã hóa (ENCODE) bằng cớ là chúng ta có thể kể lại giấc mơ, nhờ truy tìm thông tin (informationretrieval) nếu các mã hóa không bị phai mờ ( fade out).

              Tóm lại, ngôn ngữ tốt nhất có lẽ tùy thuộc vào khung tham khảo. Helena Petrovna Blavatsky từng viết “the voice of the silence” là một thí dụ.

              Nếu trình bày thế này về ngôn ngữ cho bộ môn thiền định, thì có thể làm cho một số quí vị cò luyến tiếc vật lý cổ điển thật không yên tâm, làm sao lại có một bộ môn nào đó, muốn có chỗ đứng trong khoa học, lại thiếu ngôn ngữ chính xác toán học? Tuy nhiên, nếu chúng ta liên tưởng tới sự ra đời và trưởng thành như ngày hôm nay của cơ học lượng tử, chúng ta cảm thấy được an ủi, dịu đi nỗi âu lo. Thật vậy, cơ học lượng tử ra đời với tư tưởng chủ đạo là tính chất xác suất. Toán xác suất, sóng xác suất, hệ thức bất định, đám mây xác suất thay cho quỹ đạo, từ bỏ khả năng tiên đoán chính xác các trị số, hiệu ứng đường hầm… ai cũng quen thuộc, gắn bó với hệ thập phân, nhị phân vv… tại sao lại thế này? Không phải chúng ta thiếu trí tuệ, mà tại thế giới khách quan là như vậy đó.

               Với kinh nghiệm của cơ học lượng tử, người ta có thể có hy vọng “cơ học thiền định” vẫn có cơ hội để tồn lại và phát triển, không là một con vịt què (lame duck) sắp hết thời. Vì không trả nổi món nợ toán học (xin vay mượn từ ngữ chính trị học).

 

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 4/02/2021