*Con mắt thứ ba [nghiên cứu khả năng tinh thần]

GIẢ THUYẾT CƠ HỌC THIỀN ĐỊNH

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TINH THẦN

The study of mental abilities

Trình bày sơ lược, nhận xét và phê phán công cuộc khảo cứu các hiện tượng ngoài cảm giác, trong đó có thiền định và thôi miên.

 

Sự bất lực của phương pháp thực nghiệm khách quan, đưa đến thất bại trên thực tế, vì không thể tìm thấy cái tinh thần (PSI) bằng vật chất để chứng minh cho mọi người sự hiện hữu thực sự của cái PSI. Việc này kéo dài cả thế kỷ. Bản chất của vấn đề thực sự như vậy.

Có lẽ và có thể, tìm một phương pháp khác, như phương pháp chủ quan chẳng hạn. Cụ thể như nhập định, biết đâu nó tương thích, phù hợp với đối tượng là PSI. Lịch sử đã chứng minh, một số ít tài liệu ra đời bằng phương pháp chủ quan, thí dụ: Tam Pháp Độ Luận, Thắng Pháp Tập Yếu Luận… nó nói lên những yếu tố về sự hiện hữu của cái PSI. Người thực hành thiền định ít nhiều có kết quả tích cực, phần nào nhận biết điều này. Tuy nhiên, các khoa học gia, chuyên gia tâm lý… không hề biết có sự hiện hữu của các tài liệu này, nó là những đứa con ngoài hôn thú của tâm lý học hiện đại.

Trừ một số ít khoa học gia như HEINZ  HILBRECHT – tác phẩm MEDITATION  UND  GEHIM hoặc BARBARA  ANN  BRENNAN – tác phẩm HANDS  OF  LIGHT … còn hầu hết những người thực hành thực sự thiền định, lại không thuộc về cộng đồng, giới khoa học.

- Kể cả đến ngày hôm nay, khoa học vẫn coi ngoại cảm là khoa học giả hiệu (pseudo science), cũng có trường phái thiền định lại bảo các trường đại học là vườn trẻ nít!

- Tuy nhiên, đến khi chết, dù thuộc chủ nghĩa duy gì đi nữa, người ta vẫn hy vọng đến một nơi tốt đẹp. Có vẻ khái niệm về tinh thần ngược với vật chất, mang tính chất bản năng, ẩn mình nơi vô thức (inconscience) nói theo phân tâm học, nó xuất hiện vào thời điểm khi con người cần đến, ở vào lúc mà vật chất chủ nghĩa bỏ rơi con người, lúc mà vật chất phải chấp nhận Entropy như một quy luật của thế giới tự nhiên.

- Thưa quí đọc giả, quí đọc giả nhận thấy có đúng không?

Cái gì của Caesar, trả lại cho Caesar

Cái gì của tôi, trả lại cho tôi.

 

Khoa học hiện đại là người khổng lồ một mắt Cyclops, với một thế giới ít lắm là nhị nguyên, không thể nhất nguyên, xét theo triết học

Nếu người ta qui ước với nhau, thiền định và thôi miên, có thể chia ra làm nhiều giai đoạn, mỗi một giai đoạn là một trạng thái tâm lý đặc biệt, khác nhau. Tuy nhiên, các trạng thái tâm lý này đều thuộc về một chủ thể tâm lý (sujet psychologique) nói theo quan điểm tâm lý học cổ điển. Điều này căn cứ trên thực tế cũng như lý thuyết. Chỉ có quí vị nào thực hành thiền định ít nhiều có kết quả tích cực, mới nhận biết được trạng thái này. Tại sao? Hiện tượng tâm lý mang tính chất nội tại và cá thể  tính (individualité), đây có thể là một quan điểm kinh điển lạc hậu, chưa hẳn là không dùng được.

Mục đích của tài liệu này là giải quyết một trong những giai đoạn của thiền định hoặc thôi miên “giai đoạn nhập định”. Giai đoạn này có thể mô tả nó là ngưỡng cửa, bức tường thế năng, ngăn cách khu vực ý thức đời thường và những khu vực chưa xác định được, thường được mô tả là vương quốc của việc định tâm.

 Khi đi ra khỏi khu vực ý thức bằng một cách nào đó, do tác động vật lý hoặc tâm lý.

Mỗi người lại mô tả khu vực ngoài ý thức một cách khác nhau vô cùng khác biệt. Thí dụ truyền thuyết ở miền Nam Việt Nam như  “Cô Ba cháo gà du địa ngục”  cho đến “Embraced by the light” tác giả RAYMOND MOODY gần đây hoặc Fantastiques recherché parapsychochiques en U.R.S.S… Sheila ostrander – LYNN  SCHROEDER khoảng 1965 đến 1970 của thế kỷ 20.

Thiền định thôi miên hoặc những hiện tượng chưa xác định được (unidentified phenomena) nói chung được sắp vào loại tri giác ngoài giác quan (les perceptions extra sensorielles) thí dụ như:

                        Thấu thị: clairvoyance

                        Tiên tri: precognition

                        Xuất hồn: out of body experience

vv…

Tất cả  được người Việt Nam dịch từ tiếng nước ngoài gọi là ngoại cảm (parapsychology). Từ ngữ này được  Soseph Bank Rhine và Max Dessoir phát minh vào hậu thế kỷ 19.

Tuy nhiên, ở tiền bán thế kỷ 20, từ ngữ này lại không có trong tự điển của người Pháp.  Tác giả nói trên cho là, đừng đòi hỏi nhiều quá ở một từ ngữ quá mới, dù sao nó cũng thực dụng, có một nhãn hiệu rõ ràng, cho một lĩnh vực lúc trước chưa có tên.

Theo truyền thông phổ thông, có khoảng 200 chuyên gia, làm việc toàn thời gian, ở khoảng 20 trung tâm nghiên cứu ngoại cảm trên thế giới. Nhiều viện khảo cứu đã ngưng hoạt động, vì không có kết quả cụ thể hữu ích được ghi nhận.

Ngoài những tín hiệu tích cực, có một số vấn đề cơ bản tiền đề tiêu cực như là: đối tượng để nghiên cứu, khoa học không coi là một hiện tượng có thật (un reel phenomene) vì không có cách nào để chứng minh sự hiện hữu của đối tượng là linh hồn ( le PSI). Cơ bản nữa là, không  có cách nào tạo ra một thử nghiệm có thể giải thích cho mọi người, chưa kể còn giả mạo, gian dối (Fraude), hiệu ứng ngăn kéo (effettiroir) sai lệch.

Nói tóm lại, giới khoa học nói chung, xếp ngoại cảm là khoa học giả hiệu có thế thôi (Pseudoscience).

Tại sao có hiện tượng này?

Thử tìm hiểu về quan điểm quan sát duy vật khách quan này qua lịch sử. Vào thời phục hưng ở Anh Quốc, Francis Bacon  (1561 – 1626) phủ nhận cách khảo cứu suy diễn, thay vào đó là khoa học thực nghiệm. Có nghĩa là kiến thức được xây dựng xuyên qua quan sát và đo lường trực tiếp sự vật và hiện tượng. Tìm hiểu mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả trong thế giới tự nhiên. Phương pháp này đưa lại nhiều thành quả cụ thể tích cực ở nhiều lĩnh vực: sinh học, hóa học, vv… Tâm lý học sau này, cũng noi theo lộ trình này.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nhiều trường phái tâm lý xuất hiện nói lên quan điểm khoa học thực nghiệm, thí dụ: trường phái hành vi (Behaviorism), trường phái nhận thức (cognitive psychology), trường phái Gestalt vv…

Watson, trường phái hành vi phát biểu 1913 “ Nhà hành vi coi tâm lý học là thuần túy khách quan thực nghiệm, nó thuộc một ngành của khoa học tự nhiên. Mục đích lý thuyết của nó là tiên đoán và làm chủ. Tóm lại, con người và thú vật rất ít có sự khác biệt khi học hỏi. Hệ quả là, chuột và bồ câu là những dữ liệu đầu tiên cho những nhà tâm lý hành vi. Tất cả những hành vi, dù phức tạp cách mấy, cũng có thể hiểu một cách đơn giản là sự phối hợp của sự kích thích và đáp ứng (stimulus – respouse).

Trường phái tâm lý học nhận thức cũng có một nền móng duy vật ít nhiều cực đoan, triệt để, khi tự coi mình là khoa học gia về não bộ, họ khảo cứu não bộ con người đã vận hành ra sao. Não bộ được coi là một công cụ mạnh mẽ và kỳ lạ. Thành tích cụ thể là đã tìm ra được khu vực Broca và werniche về ngôn ngữ trong não bộ.

Đỉnh cao của các học thuyết này phải kể đến Ivan Palov, với thí nghiệm ở loài chó, Skinner ở loài chuột. Cuối cùng Edward Thorndike phát biểu định luật hiệu ứng nổi tiếng (LAW OF EFFECT) mà ai cũng biết, có thể hiểu thế này, cứ ở trong một điều kiện đặc biệt nào đó, không cần kích thích, hiệu ứng vẫn xảy ra, nhiều hay ít tùy vào tình cảm yêu, ghét.

Trường phái hành vi vào những năm 1950, người ta nghi ngờ là nguyên động lực của việc tẩy não ( Brain washing) vì họ tuyên bố là có thể tiên đoán và làm chủ được tâm lý con người – và họ cho là não bộ trống rỗng lúc sanh ra ( The mind is Tabula  rasa blank  slate). Tờ báo Miami Daily News  được nhà báo EDWARD HUNTER lần đầu tiên nói về XI NAO tiếng Trung Quốc, Xi là rửa, Nao là não, một loại tiến trình thôi miên ( Hypnotic process). Đó là một kỹ thuật rất đáng sợ, biến con người thành vô hồn, thành người máy. Kỹ thuật này có nghĩa là “ thay đổi tinh thần con người từ gốc rễ” ( change a mind radically). Sự tàn khốc này hoàn toàn không thấy ở bên ngoài. Cụ thể là, nhìn người bị tẩy não, bên ngoài vẫn là một người bình thường như mọi ngày. Sự thật họ là những Zombie do thuật Xi Nao. Vào năm 1955, ác mộng đã biến thành sự thật, đại tá Frank Schwable và nhiều sĩ quan khác, khi bị bắn hạ ở Triều Tiên, thú nhận (confessed) là mình đã reo rắc các loại vi trùng như bệnh dịch hạch, bệnh than (plague, Anthrax) vào dân thường. Thậm chí có khoảng 21 binh sĩ tù binh từ chối hồi hương, ở lại Triều Tiên. Ở một số nước trên thế giới, hiệu ứng này, được một vỏ bọc văn hoa hơn “cải tạo” ( reeducation) thật ra vỏ rượu mới, nước rượu cũ. Cuối cùng thì sao? “perfect brainwashing remain in the science fiction rather than fact” . Việc tẩy não hoàn hảo chỉ tồn tại trong khoa học giả tưởng hơn là trong thực tế - xin phép phỏng dịch – có chuyên gia nhận xét như vậy. Tuy nhiên, dân gian có phát biểu như sau “gian sơn có thể đổi, bản tánh khó dời”qua kinh nghiệm thực tế đời thường. Vấn đề vừa có lại vừa không ( le problem du même et de l’autre) của triết học kinh điển, nói lên tính chất nhất thể, đơn nhất (unité) của con người dường như là một sự thật, có lẽ chẳng có gì lại cao hơn sự thật, có người bảo vậy.

Thập niên 1980 đến 1990, nhiều sự kiện làm cho trường phái hành vi ít được quan tâm, tin tưởng hơn. Xi Nao được sử dụng trên diện rộng sau cuộc chiến ở đâu đó trên thế giới. Thực tế lại thấy phản tác dụng. Một số trường phái tự tàn lụi, thí dụ psychologie dynamique vv… vì không phù hợp với thực tế. Phân tâm học psychanalyse lại phát triển vì được thực tế phán xét.

Việc ra đời của internet khoảng 1990 tạo một đột biến trong nhiều lĩnh vực, sâu  sắc nhất phải kể đến vấn đề tâm lý con người nói riêng, vấn đề tinh thần hay linh hồn nói chung. Truyền thông mang lại nhiều thông tin đa chiều. Một số vấn đề sau đây được phổ cập rộng rãi.

            - Vấn đề tái sinh (Reincarnation)

            - Vấn đề cận tử (near death experience)

            - Vấn đề đa nhân cách (dissosiative identity disorder)

            -  vv…

Ngoài ảo giác, ảo ảnh vv… cũng có những sự kiện không  thể phủ nhận được ở rất nhiều lĩnh vực. Có vẻ thiền định có cánh cửa hé mở để tồn tại. Tuy nhiên, ngoại cảm lại rơi vào thế bế tắc, vì vẫn tiếc nuối dĩ vãng của trường phái hành vi và nhận thức. Với quan điểm “có thể và quan sát khách quan” ngược lại với trường phái mentalisme (chủ tinh thần).

Đây  có lẽ là Achilles heel của các khoa học gia, của các viện khảo cứu về ngoại cảm. Văn chương dân gian Việt Nam ai cũng biết “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” hoặc “Thức khuya mới biết đêm dài”  “ Nằm trong chăn mới biết chăn có rận” vv…

Các khoa học gia hiện đại, hình như từ lâu đã quên mất triết học cổ  điển, thành công của chủ nghĩa duy vật thực dụng cực đoan, chế ngự xã hội loài  người, là một thực tế không thể phủ nhận. Dường như các nhà khoa học khảo cứu ngoại cảm cũng không ngoại lệ. Công cụ truyền thống của khoa học thực nghiệm là giác quan, các công cụ hỗ trợ và luận lý hình thức (logicque formelle). Tuy nhiên, nguyên lý bất định, lưỡng tính sóng hạt  vv…thách thức cái được gọi là tri thức luận lành mạnh.

Có lẽ đã đến lúc, muốn khảo cứu các hiện tượng tâm lý, thì cần phải nhớ lại tâm lý học cổ điển, cụ thể là những tính chất đặc thù của các hiện tượng tâm lý.

Còn các hiện tượng như: thấu thị, tiên tri vv… thì làm sao quan sát? Nên chăng, nhớ lại lý thuyết thiền định của trường phái Sakya Muni cách đây khỏang 2500 năm.

Theo trường phái này “thần thông là hệ quả tất yếu của tứ thiền hữu sắc” có thể thuyết minh như thế này: ở trong trạng thái tâm lý đứng yên ( JAVANA) ở giai đoạn thứ tư, thuộc cảnh sắc giới ( la forme) có nghĩa là ở hệ quy chiếu, khung tham khảo có hình thể ( kể cả vật lý cũng như tinh thần). Ở trạng thái này, có thể thực hiện những thao tác mà chúng ta gọi là ngoại cảm, một cách mặc nhiên, ai cũng làm được. Quí đọc giả, dù tập ở bất cứ trường phái nào, đôi khi tình cờ, cũng làm được những thao tác này. Tuy nhiên, vì thiếu tính cách chuyên nghiệp, nên không giải được những biểu  tượng mang tính chất mật mã. Nếu giải được, sẽ bất ngờ thấy nhiều thông tin kỳ lạ. Thí dụ: nhớ về kiếp trước của mình và của người ( có thể kiểm chứng ở kiếp hiện tại) biết về tương lai gần, xa vv… khó tin, nhưng có lẽ có thật.

Rào cản gần như không thể vượt qua được, là làm sao đạt được trạng thái định tâm (còn gọi là nhứt tâm, theo thuật ngữ thiền định) đó chính là kỹ thuật nhập định. Kỹ thuật này có được thuyết minh trong nhiều tài liệu cổ. Tuy nhiên, những hướng dẫn này vi phạm rất nhiều định luật tâm lý cơ bản. Do đó, phản tác dụng trên thực tế. Xin nhắc lại một lần nữa, giới khoa học nghĩ thế nào về hiện tượng ngoại cảm?

The essential problem is that a large portion of the scientific community, including most research  psychologist, regards  parapsychology  as  a pseudoscience… experimental evidence fails repeatedly to support a hypothesis … More than a century of experimentation has failed even to conclusively demonstrate the mere exixtence of paranormal phenomenon… parapsychologist continue … elusive  goal.

Nhận xét này là biểu tượng có mẫu số chung của các cơ quan khảo cứu ngoại cảm. Điều này cho thấy, các hiện tượng tâm lý có tính cách hữu ngã, nội giới, có nghĩa là nội tại trong ý thức, mà ý thức là khả năng tinh thần. Do đó, khoa học quan sát khách quan là không phù hợp, kết quả tiêu cực là tất nhiên rồi.

Nếu có một ngày, giả thuyết là có chuyên gia khảo cứu về ngoại cảm, sử dụng được phương pháp chủ quan, là tự quan sát chính mình, nhờ nhập được định thì có lẽ mọi việc sẽ đảo ngược hết. Thực tế, hình như các khoa học gia không thực hiện được việc nhập định, do đó làm sao hiểu được các hiện tượng tâm lý là nội giới, hữu ngã? Từ đây có thể suy diễn “suy bụng ta ra bụng người”.

Tập tài liệu nhỏ này, cung cấp cho quí đọc giả một mô hình nhập định khá đơn giản, có lẽ hầu hết ai cũng có thể thực hiện được. Kỹ thuật nhập định này, là sự đúc kết của nhiều thập kỷ thực hành, của nhiều định luật khoa học tâm lý, vật lý, sinh học… được ứng dụng, hệ quả nhập định có tính cách cơ học, tự động đã được thực nghiệm phán xét do quan sát chủ quan.

Kỹ thuật nhập định mà tài liệu này giới thiệu đến quí đọc giả, chỉ là những thao tác kỹ thuật mà ai cũng có thể hiểu được, hoàn toàn không phải là một tôn giáo.

Tài liệu này không cổ vũ hoặc bài bác chủ thuyết (Theism) hữu thần hay vô thần ( Atheism) việc sử dụng tùy vào nhu cầu của quí đọc giả.

Vấn đề phản ứng phụ ( Side effect) của thiền định đáng quan ngại. Truyền thông đại chúng thường cổ vũ, ca ngợi mặt tích cực của các trường phái thiền định nói chung. Đó là những thông tin thiếu tích chất chuyên nghiệp (unprofessional) nên không an toàn (unsafe) cho người sử dụng.

Sự thật thiền định có thể dẫn đến những tổn thương tinh thần ( Tranmatic Reaction), khóc vô cớ, khóc thầm không thể kiểm soát được, thở gấp, run rẩy, bị vọp bẻ, toát mồ hôi quá đáng, rối loạn nhân cách.

Có thống kê cho là, có 17% cảm giác muốn tử tự, 17% khác phải đi bệnh viện vì vấn đề tâm lý, 73% cảm thấy từ nhẹ đến nặng, khó thích hợp với cuộc sống hằng ngày vv… Còn có những phản ứng phụ tiêu cực khác của thiền định được ghi nhận: sợ hãi, hoảng loạn, ảo giác, âu lo, mất ngủ vv…

Để hiểu rõ thêm mặt trái của thiền định, quí đọc giả có thể truy cập với nội dung nêu sau:

The dark side of meditation

The dark side of meditation and mindfulness

The dark side of meditation yoga journal

Có phải thiền định thực sự là tác nhân đưa đến các phản ứng phụ tiêu cực kể trên? Chưa chắc là như vậy.

Theo Sigmund Freud, nói một cách nôm na, tâm lý con người là trái bom hẹn giờ không biết sẽ nổ lúc nào. Quí đọc giả tự quan sát mình xem có đúng hay không. Thật vậy, bất kể sang, hèn, hiền lương, tội phạm, giới tính, tuổi tác… chúng ta đều có những mong muốn không thể giải quyết được. Thí dụ:

Nợ tình chưa trả cho ai

Mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.

                                                            Kiều.

Những “khát vọng còn cấu cào” không được thỏa mãn, sẽ đành lui vào ẩn náu trong tiềm thức (subconscience) rồi biến thành quái vật. Tuy nhiên, ý thức là người gác cửa, không cho quái vật thoát ra ngoài, vì luật lệ xã hội, vì rào cản quan điểm đạo đức, phong tục, tập quán vv… Tình trạng này trở thành những dồn nén (Refoulement). Chưa kể những mặc cảm bẩm sinh như: mặc cảm oedipe, electre, tự ti, castration, cassandre vv… lại càng làm cho việc dồn nén thêm trầm trọng.

Vẫn theo trường phái phân tâm học, giấc mơ ít nhiều là nơi để các ẩn ức được giải thoát, đơn giản là vì lúc này ý thức đi ngủ. Do đó, mơ là cần thiết, phải kể thêm bản năng còn tiếp sức cho dồn nén, thí dụ: libido nổi tiếng mà ai cũng biết của bản năng tình dục vv…

Trung thực mà nói, con người vốn dĩ từ bẩm sinh, ít nhiều đều rối loạn hay đúng hơn bệnh hoạn về tâm lý. Đó là một thứ bệnh hoạn vốn có, kể từ khi bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng ở trong bụng mẹ. Xin đơn cử một thú vui tàn ác (Sadique) rất phổ biến của con người trong Horace của corneille. Xin phỏng dịch:

Tôi cầu mong trời nổi cơn thịnh nộ

Lửa trên trời chìm đắm cả thành Rome

Chính mắt tôi chứng kiến thảm họa này

Nhà tan nát, vinh quang thành tro bụi.

(Que le courroux du ciel allumé par mes voeux

Fasse pleuvoir sur elle un déluge de feux !

Puissé-je de mes yeux y voir tomber ce foudre,

Voir ses maisons en cendre, et tes lauriers en poudre)

 

Nếu hiểu như trên, thì thiền định hoặc thôi miên chỉ là yếu tố đủ (condition suffisante) để các ẩn ức có cơ hội xuất hiện. Tâm lý học hoàn toàn có khả năng giải thích điều này như sau. Thiền định, thôi miên, dù ở trường phái nào, đều tìm cách làm lu mờ ý thức cho đến triệt tiêu. Nếu người gác cửa không còn, quái vật sẽ sổ lồng, tâm lý chúng ta bị quái vật làm chủ. Tại Ấn Độ, cứ 15 phút lại có tin libido xuất hiện không kiểm soát được – theo truyền thông đại chúng-

Do đó, những biểu hiện tiêu cực về tâm lý không phải có nguồn gốc từ thiền định hoặc thôi miên, mà nguồn gốc vốn có từ bản thân mình một cách bản năng.

Đôi lời thô thiển để minh oan cho thiền định và thôi miên.

 

-         Cuối cùng xin quí đọc giả quan tâm.

Tài liệu này, chưa được cơ quan có thẩm quyền đánh giá (have not been Evaluated). Do đó, nên cẩn trọng khi tham khảo hoặc sử dụng. Xin cảm ơn!

 

Xin lỗi quí đọc giả,

Tài liệu này có rất nhiều từ ngữ nước ngoài vì có 2 lý do:

-         Thuật ngữ chuyên ngành, không dịch ra được.

-         Duy trì tính chất khách quan nên không dịch ra.

 

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 24/01/2021