*Con mắt thứ ba [cần có một cái tên thích hơp]

CẦN CÓ MỘT CÁI TÊN THÍCH HỢP

 

              Đứng trên quan điểm tâm lý học kinh viện, nếu coi thiền định là những trạng thái tâm lý, diễn biến trên môi trường ý thức, ai cũng có thể tự nhận biết, tính chất không ổn định (unstable), tính chất không lâu bền, thường hằng (impermanence) của các đơn vị tâm lý. Thí dụ, quên thoái hóa (oubli regressif), quên tiến hóa (oubli progressif). Hiện tượng “hồi cố phản ý” của tâm lý học, mà thiền định gọi là “phóng tâm” chỉ khác nhau cái tên, về chất là hiện tượng tâm lý thụ động (passive). Nếu căn cứ vào định luật Pareto, nó làm cho tâm lý con người trở nên thụ động. Trước các cơn áp suất nhiệt đới, những cơn bão Typhoon liên tục xuất hiện trên môi trường ý thức, “tưởng rằng đã quên, cuộc tình sẽ yên” “quên đi cho hết đau thương, giận hờn...” đó là tính chất hỗn loạn và liên tục của ý thức (continuité), bao gồm kể cả trong giấc ngủ và có lẽ cả khi chúng ta chết. Nguyên lý bảo toàn năng lượng có thể hỗ trợ ít nhiều quan điểm này.

             Tóm lại, không cần phải có những kiến thức hàn lâm, uyên bác, ai cũng nhìn thấy bức tranh tâm lý, luôn luôn bị những giải thoát ẩn ức (défonlement) chế ngự, xuất phát từ cõi tiềm thức, vô thức ..., có thể nó bắt nguồn từ những bản năng mà chúng ta sợ hãi, tự dối mình, cố tình che giấu, sợ hãi... đủ thứ. Sự thật, do bản năng, ai cũng phải chấp nhận sự yếu hèn (faiblesse humaine) vốn có.

Mồi phú quý dữ làng xa mã,
Bả vinh hoa lừa gã công khanh

              Tâm lý con người nói chung có vẻ là chuyển động Brown (Brownian Motion) nó không phụ thuộc vào thời gian, nguồn năng lượng bên ngoài, khi nhiệt độ tăng lên. Nếu chúng ta qui ước theo “ thắng pháp tập yếu luận” có: tâm vương (tâm lớn), tâm sở (tâm nhỏ), nó lệ thuộc ở kích cỡ nguyên tố tâm lý. Kinh nghiệm đơn giản là lúc ngủ, lúc mơ, các nguyên tố tâm vẫn sinh hoạt gần như bình thường trên môi trường ý thức – còn gọi là sân khấu ý thức -  Nhờ ý thức chủ thể và ý thức đối tượng, tôi biết tôi đang hiện hữu trong giấc mơ. Điều này xảy ra tương tự trong kinh nghiệm cận tử, thiền định, thôi miên vv... kể cả hiện tượng tái sinh. Không ai có một tri thức luận lành mạnh, lại khẳng định những hiện tượng nói trên  có hay không có. Có lẽ với tư tưởng khoa học nên gọi là những hiện tượng chưa xác định được.

               Chủ quan mà nói, tính chất thay thay đổi đổi của tâm lý được nhận biết, theo trường phái nhận thức, theo điện não đồ, đường biểu diễn, sinusoidal lúc nào cũng hiện hữu. Trừ là cơ thể vật lý không còn hoạt động, nên không có vật trung gian để đo lường, hiển thị.

               Kỹ thuật nhập định ở đây nói riêng, thiền định nói chung, được hiểu như việc thay đổi chủ động liên tục các nguyên tố tâm lý, cấu tạo nên chủ thể tâm lý và tọa độ. Ngôn ngữ kỹ thuật của bộ môn thiền định gọi là cảnh giới. Từ ngữ này không có trong khoa học hiện đại. Mặt khác, không thể dịch ra tiếng có nguồn gốc la tinh. Tại sao? Khái niệm cảnh giới không có trong văn hóa Âu Mỹ. Xin phân biệt cảnh giới là danh từ và động từ hoàn toàn khác nhau.

               Từ ngữ cơ học này vay mượn từ vật lý cổ điển, nghiên cứu về các chuyển động, là sự rời chỗ có thể mô tả bằng ngôn ngữ toán học trong không, thời gian. Tuy nhiên, từ ngữ này ở đây được dùng theo ý nghĩa của cơ học lượng tử. Chuyển  động ở đây mang tính chất xác suất cao, mạnh dạn chia tay với khả năng tiên liệu những trị số chính xác (E.u tọa độ, vận tốc, quỹ đạo…) của vật lý cổ điển.

               Tâm lý con người vốn không ổn định một cách bẩm sinh. Quan điểm này không được các chuyên gia nhất quán. Khổng Tử thì bảo có, Skinner cũng bảo có, nhưng cũng trường phái Behaviorism Watson lại bảo không.

               Nếu chúng ta thực sự quan tâm vấn đề cơ học tâm lý, có lẽ rất nên tìm hiểu một chương với cái tên “Lộ trình của tâm” trong tài liệu “luận”, của trường phái Sakya Muni (CITTA – VITHI). Để tránh ngộ nhận, xin thưa “luận” không phải là một tài liệu tâm lý học, nếu nhìn ở góc cạnh kỹ thuật thực dụng của bị môn thiền định. Người thực hành thiền định thực sự chắc chắn chia sẻ quan điểm này.

              Tuy nhiên, ở đây người ta chỉ xét ở góc cạnh Tâm lý học. Tài liệu này ra đời là do công cụ quan sát chủ quan, nhờ vào khả năng nhị trùng của ý thức (faculté  de dedoublement). Thí dụ đời thường rất phổ biến của rất nhiều người

                -         Hiện trạng tâm lý

                          “ Tình chưa vơi mà thắt cơn đau”

               -         Khả năng nhị trùng giải thích cho chúng ta

                          “Giận thay mấy miếng trầu cau

                           Giận mình cởi áo trên cầu trao ai!”

              Ý thức này bao hàm ý thức chủ thể và ý thức đối tượng, quá quen thuộc của tâm lý học, mà quí đọc giả đã biết rất rõ, xin phép nhắc lại để làm rõ vấn đề hơn.

Tài liệu này mô tả một đơn vị tâm lý có 3 giai đoạn: sanh (Uppada), trụ (Thiti), diệt (Bhanga) có nhiều đơn vị tâm liên tục như vậy. Điều này làm cho người ta lien tưởng tới Sinusoidal function

 

Một hàm toán học mà ai cũng biết.

               Cứ tri giác (perception)một cái gì, thì có 17 đơn vị tâm tham dự, thời gian t gọi là sát ma. Xin thuyết minh làm rõ, đường thẳng là luồng BHAVANGA. Tâm mạnh hay yếu là ly độ của sóng, tần số NUY là 17 giao động trong một tri giác…

              Với tài liệu này, cũng cho là tâm lý con người thay đổi liên tục, chắc quí đọc giả còn nhớ, triết gia Hy Lạp cổ đại Heraclitus cũng bảo “không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Hình như Karl Marx cũng cho là mọi thứ đều biến đổi. Khoa học tự nhiên cũng cho biết không có vật gì là bất động cả. Tuy nhiên, nhạc sỹ Từ Cung Phụng lại bảo “ có cái gì vĩnh cửu là tình yêu chúng ta”, có phát biểu khác lại cho là “lạ gì hai chữ chung tình ấy – nói ở đầu môi quên cuối môi”

              Từ ngữ cơ học có lẽ nói lên phần nào tính chuyển động của các nguyên tố tâm lý, nói lên ít nhiều nội dung của tài liệu “cơ học thiền định” tránh gây hiểu lầm hoặc lẫn lộn với các tài liệu tương tự. Tài liệu này không thuộc trường phái cổ điển truyền thống và cũng không thuộc về các trường phái tâm lý học hiện đại.

              Giả thuyết nào cũng phải chờ đợi thực tế khách quan phán xét. Lịch sử khoa học cho biết, không thiếu gì giả thuyết, đã tiên đoán chính xác các hiện tượng khách quan. Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

(còn nữa)

Người biên soạn ( dt 0915527361)

Ngày đăng 4/02/2021